lore

Chương 153: Đông Phong Áp Đảo Tây Phong

9,690 Nhấn vào nội dung để bình luận hoặc báo lỗi.

“Chúng ta cũng có thể thấy từ lịch sử đã qua quyết tâm của người Việt trong việc chống lại kẻ xâm lược ngoại bang.”

Koman chỉ đơn giản đọc những lời nói chuẩn mực, như rằng người Việt từ xưa đến nay luôn là một dân tộc kiên cường bất khuất và chắc chắn sẽ đứng vững giữa các dân tộc trên thế giới… Những lời này hoàn toàn mang tính lễ phép, không hề có ý nghĩa gì khác.

Sau khi nghe những lời nói lễ phép của Koman, Ngô Đình Thục càng trở nên xúc động hơn; anh ta bắt đầu khóc lóc. Thực ra, Koman chỉ đang tỏ lòng lễ phép mà thôi, ai ngờ Ngô Đình Thục lại tiếp tục nói mãi không ngừng.

Nhân cơ hội này, Ngô Đình Thục đã bắt đầu kể về những kẻ thù mà Việt Nam từng đối mặt – số lượng quân địch ít hơn nhiều so với quân đội Việt Nam… Không biết anh ta muốn gây sự thông cảm (dù điều đó không hề có thật) hay sao, nhưng anh ta đã tập trung mô tả chi tiết những tội ác mà 700.000 binh sĩ nhà Minh đã gây ra trên đất Việt Nam.

“Nhiều người như vậy à…” Koman ngạc nhiên khi nhấp một ly nước ép. Theo những gì anh ta biết về quá trình xâm lược của nhà Minh vào Giao Chỉ, triều đại này không hề có khả năng điều động một đội quân lớn đến thế.

“Suốt hàng nghìn năm qua, họ luôn dùng lợi thế về dân số để xâm lược chúng ta. Hơn một trăm năm trước, khi đất nước chúng ta gặp phải những vấn đề nội bộ, 200.000 binh sĩ của họ đã đến miền Bắc nước ta để giết chóc, cướp bóc…” Ngô Đình Thục nói với vẻ tức giận, dường như đang ám chỉ đến Trung Quốc.

Koman hiểu rõ tâm lý tự an ủi của một số quốc gia thuộc địa: khi không thể đánh bại đối thủ trực tiếp, họ thường sử dụng những lời lẽ mỉa mai để che đậy sự yếu đuối của mình… Tuy nhiên, anh ta còn quan tâm hơn đến mức độ chính xác của những số liệu liên quan đến quy mô các cuộc chiến tranh được ghi chép trong các tài liệu lịch sử Việt Nam.

Sau một lúc suy nghĩ, Koman cho rằng Ngô Đình Thục đang nói về Cuộc chiến tranh Tần–Việt… Anh ta hỏi một cách nghi ngờ: “200.000 người ư? Là quân của Tám Kỳ à?”

Thấy Ngô Đình Thục tỏ vẻ như sẵn sàng thề thốt chứng minh điều đó, Koman quyết định không tin. Anh ta nhớ rằng Cuộc chiến tranh Tần–Việt thậm chí còn không được coi là một cuộc chiến quan trọng trong lịch sử… Có lẽ chỉ có khoảng hơn 10.000 binh sĩ của quân đội nhà Minh tham gia chiến đấu ở miền Bắc Việt Nam, và điều này cũng không hề được Hoàng đế Càn Long quan tâm đến.

Những con số như 200.000 binh sĩ Tám Kỳ hay 700.000 binh sĩ nhà Minh th

Vị hoàng đế này tin chắc một điều: việc trả tiền có hiệu quả hơn mọi thứ; việc giao nộp lao dịch cũng không bằng việc trả tiền.

Vì vậy, so với những cuộc chiến lớn nhỏ ở Tây Tạng và Thanh Hà, những cuộc xung đột biên giới trong thời kỳ Đường Long như cuộc chiến tranh Trung-Việt, Comen khó có thể tin vào lập trường của Việt Nam do Ngô Đình Thục đại diện.

Tất nhiên, rất nhanh sau đó, Comen cũng nhận ra rằng những lời nói của Ngô Đình Thục cũng không hoàn toàn vô lý; bởi vì theo lời ông ta, toàn thể người dân Việt Nam đều tham gia vào quân đội, và một đội quân lớn gồm ba triệu người đã chống lại sự xâm lược của nước láng giềng phía Bắc.

Khi con số ba triệu người được đưa ra, những con số như bảy trăm nghìn hay hai trăm nghìn người dường như trở nên bình thường hơn nhiều. Vấn đề duy nhất bây giờ là: tại sao khi quân đội Pháp đến, đội quân ba triệu người của Việt Nam lại biến mất?

Nếu tiếp tục theo đuổi những suy nghĩ đó, Comen e rằng sẽ xuất hiện những con số “khổng lồ” giống như trong các kinh sách tôn giáo Ấn Độ, vì vậy ông buộc phải kéo Ngô Đình Thục trở lại với thực tế hiện tại – bởi vì quá khứ chỉ có thể là bài học cho tương lai, và mọi việc đều phải dựa trên hiện tại.

Pháp đã không may không gặp được thời cơ thuận lợi để thúc đẩy trật tự của mình; nếu không, Comen chắc chắn sẽ khiến Ngô Đình Thục nhận ra rằng, khác với người Anh luôn tìm kiếm sự thật, khác với người Đức quan tâm đến nguồn gốc của mọi thứ từ thời Hy Lạp cổ đại, thì sự hủy diệt của nền văn minh Pháp chính là con đường đúng đắn.

Thật đáng tiếc… Những quan điểm có thể sánh ngang với các cường quốc phương Đông lại đã thất bại trước người Anh, những kẻ chẳng làm gì cả, trong một thời kỳ quan trọng trước khi nền văn minh hiện đại được thiết lập.

Trong lòng, Comen đã quyết tâm rằng tương lai, ông nhất định sẽ đè nát người Anh, khiến họ không bao giờ có thể phục hồi.

“Chúng tôi đang tìm cách nâng cao địa vị của cộng đồng Công giáo ở Indochina; điều này chắc chắn sẽ thu hút sự chú ý của Vatican. Ý tưởng ban đầu là…” Comen muốn giúp Ngô Đình Thục trở thành Tổng Giám mục của khu vực Thuận Hóa.

Hiện tại, đó là bước xa nhất mà họ có thể thực hiện được; mặc dù khi ở Ý, Comen đã tìm hiểu về những vụ ấu dâm và những điều tồi tệ xảy ra dưới sự bảo trợ của Vatican.

Nhưng việc trở thành Hồng y vẫn là điều không thể; Hồng y là những người có địa vị cao nhất sau Giáo hoàng, và việc đạt được địa vị đó không thể so sánh được với việc trở thành Tổng Giám

Việc tiết lộ những lợi ích mà họ dự định mang lại cho ông Ngô Đình Thục khiến người đàn ông này, người sùng đạo chân thành này, vô cùng vui mừng; ông ta coi ông Koman như một người có địa vị ngang hàng với Chúa trời, và nói rằng “Thật là cảm ơn quá.”

“Nhà nước giúp đỡ ông Ngô Đình Thục cũng với mong muốn ông ấy sẽ góp phần tích cực vào việc cải cách và trang bị vũ khí cho các tín đồ Công giáo lần này.”

Ông Koman nói với giọng điệu cho thấy nhà nước không thể kỳ vọng vào ông Ngô Đình Thục một cách vô ích: “Ánh sáng của Chúa trời ở phương Đông phụ thuộc vào ông Ngô Đình Thục; những người vô thần đã trở thành mối đe dọa lớn đối với thế giới Kitô giáo.”

Sau khi tiễn khách đi, tổng독부 vẫn còn một việc cần bàn bạc với ông Koman: Pháp thuộc Đông Dương đang tuyển chọn phi công không quân; những người được chọn sẽ được đưa đến Marakesh ở Morocco để tham gia khóa huấn luyện cơ bản trong một năm, sau đó được chuyển đến căn cứ không quân Avord ở Pháp để tiếp tục huấn luyện trong hai năm nữa, và cuối cùng sẽ đến Algeria để tham gia khóa huấn luyện chiến đấu trong năm tháng.

Lý do đưa thông tin này cho ông Koman là vì họ hy vọng nhận được sự hỗ trợ từ Bộ Tổng tham mưu Quân đội; đồng thời, bản thân ông Koman cũng có kinh nghiệm làm việc tại các tỉnh ngoài biển của Algeria.

Đã gần bốn tháng kể từ khi ông Koman đến đây, và khoảng một nửa số người Kitô giáo ở Trung Đông đã di cư đến Bắc Phi.

“Tướng Juan chắc chắn sẽ hỗ trợ chúng ta; dù là các tỉnh ngoài biển hay Pháp thuộc Đông Dương, tất cả đều là một phần của Đế chế Pháp,” ông Koman nói, với tư cách là Tổng chỉ huy quân đội Pháp tại Algeria.

“Quân đội luôn đáng tin cậy hơn chính phủ; vậy thì không còn vấn đề gì nữa,” ông Dachonlu nói, không hề đề cập đến chính phủ liên minh cánh tả hiện tại, bởi vì Paris đang trong tình trạng xung đột chính trị.

Cuộc đấu tranh lần này xoay quanh sự đối đầu giữa liên minh cánh tả cầm quyền và phong trào Cộng hòa Nhân dân; mặc dù cả hai phe đều ủng hộ chế độ nghị viện và không mấy quan tâm đến chế độ tổng thống mà De Gaulle ủng hộ, nhưng chế độ nghị viện mà hai phe hỗ trợ lại khác nhau.

Liên minh cánh tả muốn thông qua dự thảo sửa đổi hiến pháp mới để thúc đẩy việc thiết lập chế độ nghị viện một viện, từ đó giúp nghị viện giữ vai trò chủ đạo tuyệt đối ở Pháp.

Trong khi đó, phong trào Cộng hòa Nhân dân do Georges Pidault lãnh đạo lại ủng hộ chế độ nghị viện hai viện – Hạ viện và Thượng viện – tương tự như hệ thống quốc hội ở nhiều quốc gia kh

Những cuộc đấu tranh chính trị giữa ba đảng lớn khiến Đà Sơn Luật cảm thấy vô cùng bất mãn, vì vậy ông đã nói với Koman rằng quân đội có hiệu quả hơn chính phủ. Ông cũng có xu hướng không hài lòng với Đảng Cộng sản Pháp, bởi vì trong vấn đề Đông Dương thuộc Pháp, Đảng Cộng sản Pháp luôn ủng hộ việc đối thoại thay vì sử dụng vũ lực để giải quyết vấn đề.

Đối mặt với Mặt trận Giải phóng Dân tộc Việt Nam – một tổ chức cũng mang đậm ảnh hưởng của Liên Xô – Đà Sơn Luật không tin vào những lời nói ngọt ngào mà các lãnh đạo Mặt trận Giải phóng Dân tộc Việt Nam dành cho Hoa Kỳ; ngược lại, ông còn hoàn toàn nghi ngờ về Đảng Cộng sản Pháp, một đảng phái có cùng nguyên tắc cơ bản với Đảng Cộng sản Việt Nam.

Vào khoảng thời gian này, khi Pháp xảy ra những bất đồng về hệ thống nghị viện, Ý cũng bắt đầu cuộc bầu cử địa phương lần đầu tiên sau chiến tranh. Cuộc bầu cử này được coi là dấu hiệu báo hiệu xu hướng tương lai của Ý; nó được tổ chức tại 2.400 thị trấn và thành phố thuộc 43 tỉnh trên khắp cả nước, và quân đội Mỹ tại Ý đã được điều động để giám sát kết quả bầu cử.

Giống như Đảng Xã hội Chủ nghĩa Pháp và Đảng Cộng sản Pháp, Đảng Xã hội Chủ nghĩa Ý và Đảng Cộng sản Ý cũng đã liên minh với nhau để đối phó với cuộc bầu cử tổng thống sắp tới. Đối thủ của họ là Đảng Dân chủ Công giáo Ý, một đảng phái có cùng lập trường chính trị với Phong trào Dân chủ Nhân dân Pháp.

Hai quốc gia có hai đảng phái thân Liên Xô lớn nhất châu Âu đã trải qua những biến đổi tương tự trong vòng vài tháng. Rất nhanh sau đó, kết quả bầu cử được công bố: Đảng Xã hội Chủ nghĩa Ý và Đảng Cộng sản Ý đã cùng nhau giành được 50% số phiếu bầu, đặc biệt là ở những vùng được gọi là “tam giác đỏ” như Emilia-Romagna, Tuscany, Umbria, cũng như các thành phố công nghiệp quan trọng như Turin, Milan, Genoa… Ví dụ, tại Bologna, liên minh phe tả đã giành được khoảng 60% số phiếu bầu; tại Florence, Đảng Cộng sản Ý trở thành đảng phái giành được nhiều phiếu bầu nhất.

Trong hai cuộc bầu cử diễn ra vào những thời điểm tương tự sau chiến tranh ở Pháp và Ý, liên minh phe tả đều giành chiến thắng bằng cách nhận được trên 50% số phiếu bầu. Nếu lần đầu tiên ở Pháp, Hoa Kỳ có thể cho rằng họ đánh giá thấp đối thủ, thì chiến thắng này của liên minh phe tả ở Ý đã cho thấy rõ ràng rằng sức mạnh của phe tả ở các nước Tây Âu vượt xa những gì Hoa Kỳ từng tưởng tượng.

Mặc dù Đảng Dân chủ Công giáo Ý mạnh m

1/1 0%