lore

Chương 88: Không đề

11,750 Nhấn vào nội dung để bình luận hoặc báo lỗi.

“Giám đốc.”

“Chị Yí.”

“Đừng khách sáo thế, cứ ăn trước đi.” Trương Tân Y nói với nụ cười, lắc đầu và mở hộp cơm ra; sau đó đặt biểu mẫu đánh giá sang một bên và mở hộp đựng thực phẩm tươi.

‘Hóa ra là viên cá nhỉ? Có phải là viên cá chình không?’

Trong hộp đựng thực phẩm tươi có ba loại viên cá: viên cá đậu phụ, viên cá cà ri và viên cá rong biển. Cô nhấc một viên cá cà ri không dính sốt cà ri lên và thử nếm.

‘Không có mùi tanh của cá rõ rệt, chỉ hơi ngọt ngào một chút… Cảm giác giống viên thịt heo hơn, này là làm từ con cá gì vậy? Viên cá chình có vị như thế này không?’

Tiếp theo, cô nhấc một miếng cá đậu phụ đã được ngâm trong sốt cà ri và sốt cà chua; sau khi thử một miếng, cô thấy miếng cá đậu phụ này mềm mại hơn so với viên cá trước đó, và cũng không phát hiện ra điểm gì đáng lo ngại.

Cuối cùng là viên cá rong biển.

Sau khi thử hết cả ba loại sản phẩm, cô lấy cây bút bi ra, đánh dấu vào biểu mẫu đánh giá và viết vài ý kiến đóng góp.

“Chị Yí, cho em mượn cây bút được không?” Một nữ nhân viên bên cạnh cũng đang ăn viên cá và chuẩn bị điền thông tin vào biểu mẫu đánh giá.

Ngồi đối diện, A Bín tỏ vẻ tò mò: “Đây là làm từ con cá gì vậy? Chắc không phải là viên cá chình chứ?”

Một đồng nghiệp khác nhấc một miếng đùi gà luộc và lắc đầu: “Không phải đâu… Cá chình của công ty đều được chế biến thành hộp thủy tinh hoặc hộp thiếc; không cần phải dùng loại cá đắt tiền để làm viên cá đâu. Thông thường, người ta hay dùng những loại cá rẻ tiền và có số lượng lớn để làm viên cá.”

“Ai quan tâm đâu… Dù sao mùi vị cũng khá ngon mà… Không biết giá bán lẻ là bao nhiêu nhỉ?” Một nữ nhân viên đang ăn viên cá cà ri nói.

A Bín uống một ngụm canh xương sườn với rong biển: “Có quan tâm giá bán lẻ làm gì chứ? Mỗi dịp lễ Tết, công ty đều phát cho mọi người… Đến lúc đó, ăn nhiều quá sẽ bị ói đấy.”

Những nhân viên khác cũng nhận ra điều này.

Khi nghĩ đến những hộp cá chình mà công ty đã phát vào dịp Tết năm ngoái, họ đều không khỏi cười trừ.

Ông chủ thực sự rất thích phát sản phẩm của chính công ty mình cho nhân viên.

Thực ra, việc Giang Miào làm như vậy còn có một mục đích ẩn giấu nữa, đó là khuyến khích nhân viên chú ý đến vệ sinh trong quá trình sản xuất, bởi vì những sản phẩm này sẽ được phát cho tất cả mọi người.

Hơn nữa, để tránh tình trạng nhân viên lợi dụng chính sách này, công ty chỉ lựa chọn những sản phẩm được sản xuất trong hai tháng gần nhất để phát cho nhân viên.

Nhà hàng ăn của công ty đã nhiều lần tổ chức các hoạt động tương tự như yêu cầu nhân viên tham gia đánh giá món cá viên vào buổi trưa hoặc buổi tối. Chẳng hạn, gần đây, nhà hàng đã liên tục thử nghiệm các món như gà rôti, xích shāo, gà luộc, vịt quay trong hơn một tháng. Hiện nay, đội ngũ làm việc tại nhà hàng không chỉ vài người, mà có tới hơn hai mươi người. Việc này được Tưởng Hải Bão sắp xếp; ông ấy luôn tiến hành mọi việc một cách có tổ chức và khoa học, thích tận dụng triệt để các nguồn lực hiện có, và chính ông ấy là người thúc đẩy cuộc cải cách nhà hàng ăn của trụ sở công ty. Dù sao đi nữa, khi số lượng nhân viên ngày càng tăng, nhà hàng sẽ phải đối mặt với vấn đề thiếu nhân lực trong bếp, điều này có thể dẫn đến sự lãng phí nguồn lực lao động. Có thể biết rằng, năm đầu bếp chính của công ty đều được trả lương ở mức D3, cùng với mười người phụ việc trong bếp, năm người dọn dẹp, một người quản lý nhà hàng và mẹ của Giang Miào, tổng cộng là hai mươi hai người. Với số lượng người lớn như vậy, chỉ để phục vụ ba bữa ăn mỗi ngày cho hơn hai trăm nhân viên, rõ ràng là có sự lãng phí nguồn lực. Nhà hàng trụ sở công ty đã trang bị nhiều thiết bị hiện đại, như máy cắt rau, máy rửa rau, v.v., nhằm giảm bớt công sức lao động. Sau khi nghiên cứu hoạt động của nhà hàng, Tưởng Hải Bão nhận thấy rằng nhà hàng áp dụng hình thức làm việc hai ca, ca sáng từ 6 giờ đến 8 giờ và từ 10 giờ đến 12 giờ, tổng cộng là bốn giờ; ca tối từ 4 giờ chiều đến 7 giờ và thêm một ca phục vụ bữa tối từ 9 giờ đến 10 giờ, cũng tổng cộng là bốn giờ. Trong tình huống này, có rất nhiều khoảng thời gian trống rỗng. Vì vậy, Tưởng Hải Bão đã thúc đẩy cuộc cải cách nhà hàng, nhằm tận dụng triệt để những khoảng thời gian trống rỗng này. Hiện nay, các món như vịt quay, gà luộc, xích shāo, lươn nướng, chân heo hầm, cơm xào cà ri đều được chuẩn bị tại nhà hàng trụ sở công ty, sau đó được vận chuyển đến nhà hàng lươn bằng xe tải lạnh hoặc xe ba bánh. Nhờ vậy, nhà hàng trụ sở công ty trở thành “bếp trung tâm”, và nhà hàng lươn cũng có thể giảm quy mô bếp của mình. Còn về việc liệu các đầu bếp có sẵn lòng làm thêm hai giờ hay không… câu trả lời là hoàn toàn có. Một mặt, đội ngũ đầu bếp tại nhà hàng công ty chủ yếu là những người làm việc độc lập, không giống như các nhà hàng khác, nơi đội ngũ đầu bếp thường rất gắn kết với nhau, và một số đội ngũ mạnh mẽ thậm chí còn yêu cầu nhà hàng phải chia nhỏ lại.

Mặt khác, Tưởng Hải Bão hiểu rõ rằng nếu muốn ngựa chạy nhanh, thì chắc chắn phải cho chúng ăn cỏ. Mặc dù hai giờ đó thuộc về giờ làm việc, nhưng cần phải có những biện pháp kích thích để các đầu bếp này sẵn lòng làm việc hết mình. Vì vậy, các món ăn được bán tại nhà hàng cá lươn sẽ được trả hoa hồng 5% cho khu vực căn tin; số tiền này sẽ được tổng hợp vào cuối tháng và được phân phát cho từng đầu bếp trong bếp. Nhờ vào cách cải cách này, căn tin của trụ sở đã chuyển từ một bộ phận phúc lợi nhân viên thành một bộ phận sản xuất. Trong tương lai, hoàn toàn có thể mở các chi nhánh nhà hàng cá lươn tại những khu vực có lượng khách hàng đông đúc như khu vực đô thị hay huyện Hải Phong, sau đó căn tin trụ sở sẽ chịu trách nhiệm sản xuất và giao hàng cho các chi nhánh đó. Ngoài ra, căn tin của công ty Hải Lục Phong còn có một đặc điểm rất khác biệt so với các nhà hàng thông thường, đó là họ rất coi trọng việc ghi chép dữ liệu và quản lý công thức nấu ăn. Công ty đã ký hợp đồng với tất cả các đầu bếp mới nhập ngũ, yêu cầu họ phải lập hồ sơ chi tiết về quy trình sản xuất mọi món ăn được chế biến trong bếp; không cho phép các đầu bếp giấu diếm thông tin nào. Điều này đã được ghi rõ trong hợp đồng khiến việc, và nếu ai không chấp nhận điều kiện này, họ sẽ không thể trở thành đầu bếp tại căn tin của công ty Hải Lục Phong. Ngoài ra, công ty cũng cố gắng sử dụng máy móc để thay thế những công việc lặp đi lặp lại, nhàm chán. Chẳng hạn, việc cắt rau và rửa rau thì máy móc hoạt động hiệu quả hơn nhiều so với con người; bể rửa rau bằng sóng siêu âm còn hiệu quả hơn cả việc rửa bằng tay. Thực sự, chỉ những công việc cần sự can thiệp của con người mới là việc nhận diện những lá rau hỏng, sâu bọ, v.v. Tưởng Hải Bão dự định biến bếp của công ty thành một nhà bếp trung tâm theo hướng nghiên cứu và phát triển công nghệ; không theo đuổi sự xa xỉ, mà chú trọng đến việc tự động hóa, thông minh hóa và đơn giản hóa quy trình sản xuất, nhằm đảm bảo chất lượng các món ăn luôn ổn định – điều này cũng là yêu cầu của nhiều nhà bếp trung tâm khác. Quá trình nghiên cứu và phát triển loại viên cá mới của nhà máy đóng hộp cũng có sự tham gia đầy đủ của các đầu bếp tại căn tin công ty. Tuy nhiên, nguyên liệu để làm những viên cá này không phải là cá lươn như mọi người đoán, mà là cá chép Ai Cập. Đúng vậy, những viên cá và đậu hũ cá này đều được làm từ cá chép Ai Cập làm nguyên liệu chính. Lý do chọn cá chép Ai Cập làm nguyên liệu chính chỉ có một câu trả lời: giá rẻ và lượng lớn. Giá của một kg cá chép Ai Cập chỉ là 4 nhân dân

Tại sao không có nhà máy chế biến viên cá nào sử dụng cá trê Ai Cập làm nguyên liệu?

Lý do là vì cá trê Ai Cập được nuôi trong ao quy mô lớn thường có mùi tanh đất rất nặng; dù cho có sử dụng nhiều gia vị đi nữa, cũng rất khó để che giấu hoàn toàn mùi này.

Khách hàng rất dễ nhận ra mùi tanh đất của những viên cá trê thông thường, vì vậy họ tự nhiên sẽ không mua loại viên cá này. Khi khách hàng không mua, thì các nhà máy chế biến viên cá cũng sẽ không sử dụng cá trê Ai Cập làm nguyên liệu.

Nhà máy đóng hộp của công ty chọn cá trê Ai Cập làm nguyên liệu, bởi vì Giang Miào đã tìm ra phương pháp kỹ thuật để giải quyết vấn đề này.

Bằng cách cho cá trê ăn loại thức ăn đặc biệt, kết hợp với các bể nuôi bằng nhựa và hệ thống nước tuần hoàn liên tục, chỉ trong khoảng 24 ngày, lượng chất tanh đất trong cơ thể cá trê có thể được loại bỏ đến 99%.

Những ai đã từng thưởng thức cá trê Ai Cập sống tự nhiên trong hồ đều biết rằng hương vị của chúng không hề tồi; độ ngon của chúng không kém gì cá trai, và hoàn toàn có thể thay thế cá trai được. Thực tế, một số cửa hàng ăn Nhật Bản nhỏ lẻ đang sử dụng cá trê Ai Cập thay thế cá trai.

Do đó, công ty dự định sẽ sử dụng cá trê Ai Cập làm nguyên liệu thức ăn, đồng thời áp dụng công nghệ để loại bỏ hầu hết lượng chất tanh đất trong chúng, sau đó mới sử dụng chúng để sản xuất viên cá.

Khi nhân viên trong căn tin ăn thử sản phẩm viên cá mới này mà không cảm thấy mùi tanh đất, điều đó chứng tỏ rằng sản phẩm đã thành công ở mức đáng kể.

Cần biết rằng, Lý Tân Hoa đã tính toán tổng chi phí sản xuất loại viên cá mới này; nếu sản xuất trên quy mô lớn, chi phí trung bình cho mỗi kilogram viên cá chỉ là 3,76 nhân dân tệ.

Trong khi đó, các doanh nghiệp chế biến sản phẩm thủy sản địa phương ở khu vực thành phố Shanmei như nhà máy thực phẩm Guotai sản xuất viên cá vàng và đậu hũ cá, giá bán buôn mỗi kilogram là 53 nhân dân tệ.

Lý Tân Hoa đã nghiên cứu về chi phí sản xuất của họ; mặc dù không biết được những con số chi tiết, nhưng chi phí sản xuất của nhà máy Guotai chắc chắn không thấp, bởi vì họ sử dụng cá biển làm nguyên liệu. Ngay cả khi mua số lượng lớn tại cảng, giá cá biển cũng không thể thấp hơn 10 nhân dân tệ mỗi kilogram.

Ngay cả khi công ty Hailufeng không tiến hành cuộc chiến giá cả và bán sản phẩm với mức giá tương đương, lợi nhuận gộp mỗi kilogram vẫn đạt 49,24 nhân dân tệ.

Đây chính là lợi ích của việc nắm giữ công nghệ.

Hơn nữa, Lý Tân Hoa còn phát hiện ra một ưu thế khác của công ty Hailufeng.

Nguồn cung nguyên liệu cho nhà máy Guotai rất không ổn định; bởi vì mỗi năm đều có những thời gian cấm đánh bắt cá. Đối v

Lý Tân Hoa biết được điều này là bởi vì mỗi năm vào mùa đánh bắt hải sản, nhà máy thực phẩm Quốc Thái đều tuyển một số lượng lớn phụ nữ nông thôn từ các làng trong khu vực thành thị để làm công việc tạm thời; chỉ cần hỏi thăm xung quanh là có thể biết được thông tin này.

Tình trạng này chỉ có thể giải thích cho một điều duy nhất, đó là nguồn cung nguyên liệu của nhà máy này cực kỳ không ổn định.

Trong khi đó, công ty Hải Lục Phong sử dụng cá chép Ai Cập làm nguyên liệu thô, điều này có thể giúp họ tránh khỏi những vấn đề liên quan đến sự không ổn định của nguồn cung nguyên liệu.

Nhưng điều này lại đặt ra một câu hỏi khác: Tại sao nhiều nhà máy thực phẩm lại có lợi nhuận thấp hoặc khả năng chống chịu rủi ro yếu? Đó là bởi vì nhiều nhà máy không thể kiểm soát được nguồn cung nguyên liệu ổn định; một khi nguồn cung gặp vấn đề hoặc giá cả tăng vọt, lợi nhuận của họ có thể sẽ giảm mạnh.

Lý Tân Hoa hoàn toàn đồng ý với quan điểm của Giang Miào. Nguyên liệu thô chính là “đường sống” của các doanh nghiệp chế biến thực phẩm; nếu có thể kiểm soát được quá trình sản xuất nguyên liệu thô và xây dựng dựa trên đó một chuỗi sản xuất vững chắc, thì doanh nghiệp đó sẽ phát triển mạnh mẽ.

Chẳng hạn, một số nhà máy sản xuất thức ăn chăn nuôi ở trong nước có thể phát triển rất tốt trong lĩnh vực chăn nuôi heo và chế biến thịt, đó là bởi vì họ nằm ở phía trên của chuỗi sản xuất; việc mở rộng hoạt động xuống phía dưới của chuỗi sản xuất giống như việc đi theo dòng nước chảy vậy.

Tất nhiên, chuỗi sản xuất của những nhà máy này vẫn chưa thực sự ở phía trên. Phía trên thực sự là lĩnh vực sản xuất lương thực, đánh bắt hải sản xa bờ và chế biến dầu ăn, sau đó mới đến lĩnh vực sản xuất thức ăn chăn nuôi.

Công ty Hải Lục Phong của Giang Miào đang âm thầm mở rộng chuỗi sản xuất của mình về phía trên.

1/1 0%