lore

Chương 177: Không đề

19,346 Nhấn vào nội dung để bình luận hoặc báo lỗi.

Ngày 29 tháng 6 – cũng chính là ngày thứ hai sau khi Giang Miào đến công ty chi nhánh Mò Nam.

Giang Miào đã sử dụng phòng thí nghiệm mà Tập đoàn Khai thác Khoáng sản Liên kết đã thiết lập gần trung tâm huyện Gia Viễn. Ban đầu, phòng thí nghiệm này là một phòng thí nghiệm nhỏ được đầu tư bởi một công ty chuyên nuôi giống gia súc; tuy nhiên, vào năm 2023, công ty đó gặp phải khó khăn trong hoạt động kinh doanh và đã bị Tập đoàn Khai thác Khoáng sản Liên kết mua lại vào tháng 4, để sử dụng làm cơ sở thí nghiệm cho nghiên cứu về công nghệ khai thác khoáng sản sinh học.

Phòng thí nghiệm này nằm ở phía đông nam của trung tâm huyện, có diện tích 240 mẫu; trang thiết bị bên trong không quá hiện đại, nhưng ít nhất cũng đủ để thực hiện các nghiên cứu liên quan đến vi sinh vật.

Về việc cho Giang Miào sử dụng phòng thí nghiệm này, ban đầu Lâm Vĩnh Hoa dự định cho anh ta sử dụng miễn phí, nhưng Giang Miào đã từ chối và yêu cầu họ soạn thảo một hợp đồng thuê. Dù sao thì anh ta cũng không thiếu tiền; hơn nữa, Tập đoàn Khai thác Khoáng sản Liên kết không phải là công ty con hoàn toàn thuộc sở hữu của Công ty Hải Lục Phong, vì vậy việc này càng cần được xem xét kỹ lưỡng hơn.

Bên trong phòng thí nghiệm đơn sơ này, Giang Miào đã lấy ra các loại vi khuẩn và nấm mốc được lưu trữ tại đây. Bởi vì mục đích của việc nghiên cứu này là phát triển công nghệ khai thác khoáng sản sinh học, nên chắc chắn sẽ có các chủng vi sinh vật liên quan.

Tối hôm qua, trong cuộc trò chuyện với Ngô Tùng, Giang Miào đã nhận được một ý tưởng mới.

Ngô Tùng đã đề cập đến khu vực nuôi trồng gia súc; với việc quy mô nuôi gia súc ngày càng mở rộng, phân gia súc sản sinh ra hàng ngày cần phải được xử lý càng sớm càng tốt.

Nói chung, có bốn cách thông thường để xử lý phân gia súc trong các trang trại:

Một là chôn lấp ngoài trời, sau đó phơi khô để sử dụng làm nhiên liệu.

Hai là bán cho các doanh nghiệp hoặc cá nhân có nhu cầu.

Ba là ủ phân hữu cơ, sau đó sử dụng đất đã ủ làm phân bón hữu cơ cho đất canh tác, hoặc bán phân bón hữu cơ đó.

Bốn là sử dụng để ủ phát điện sinh học, sau đó xử lý chất thải phân sinh học thành phân bón hữu cơ để tự sử dụng hoặc bán.

Hiện tại, khu vực nuôi trồng gia súc ở Mò Nam đang áp dụng phương pháp thứ ba, đó là ủ phân thành phân bón hữu cơ.

Còn lý do tại sao không áp dụng phương pháp thứ tư, vốn mang lại lợi ích kinh tế cao hơn, thì đó là do điều kiện khí hậu.

Khí hậu ở phía đông Mò Nam tương tự như ở Đông Bắc; thời tiết ở đây quá lạnh.

Cần biết

Ngay cả khi sử dụng các hệ thống lên men kiểu hầm để giữ ấm bằng nhiệt độ trong lòng đất, thì nhiệt độ bề mặt đất vẫn phải cao hơn 20 độ C. Tuy nhiên, ở khu vực phía đông của Mạc Nam, số ngày có nhiệt độ ban ngày trên 20 độ C chỉ khoảng từ 90 đến 120 ngày mà thôi.

Nếu phải sử dụng biện pháp tăng nhiệt độ nhân tạo để duy trì nhiệt độ lên men, thì việc sản xuất khí sinh học liệu có ý nghĩa gì nữa chứ? Dù sao thì mục đích của việc sản xuất khí sinh học cũng là để sử dụng làm năng lượng. Việc phải tốn kém chi phí để duy trì nhiệt độ trong các thiết bị lên men trong điều kiện thời tiết lạnh sẽ làm tăng đáng kể chi phí sản xuất, và tỷ suất lợi nhuận sẽ rất thấp, không mang lại hiệu quả kinh tế gì cả.

Ở nước ta, vào đầu những năm 2000, đã có nỗ lực tích cực trong việc phổ biến các hệ thống lên men khí sinh học quy mô nhỏ tại các hộ gia đình trong lưu vực sông Dương Tử. Nhưng đến nay, hầu hết những hệ thống này đều đã bị bỏ hoang, bởi vì khi nhiệt độ giảm xuống, hiệu quả lên men giảm đáng kể và lượng khí sản xuất ra cũng giảm mạnh.

Hiện nay, chỉ có một số khu vực ở tỉnh Quý mới còn có người dân sử dụng khí sinh học, bởi vì khí hậu ở đây khá ấm áp, với số ngày có nhiệt độ trung bình hàng ngày trên 20 độ C vào khoảng 200 đến 250 ngày mỗi năm. Đặc biệt là các khu vực ven biển phía nam tỉnh Quý, nơi mà nhiệt độ trên 20 độ C kéo dài đến gần 250 ngày, điều kiện thời tiết này cho phép các hệ thống lên men khí sinh học hoạt động hiệu quả trong thời gian dài.

Do đó, Wu Song hoàn toàn không nghĩ đến việc xây dựng các hệ thống lên men khí sinh học gần trang trại nuôi gia súc của mình, bởi vì dự án như vậy vừa tốn công sức lại không mang lại lợi ích nào đáng kể.

Tuy nhiên, lời nói của Wu Song đã khiến Giang Miào suy nghĩ lại. Thực ra, phân gia súc là một nguồn tài nguyên rất đa dạng. Nó có thể được sử dụng làm nguyên liệu cho phân bón hữu cơ, làm môi trường trồng nấm ăn được, hoặc trực tiếp làm nhiên liệu, hoặc qua quá trình lên men để sản xuất khí sinh học.

Lý do là vì gia súc không thể tiêu hóa hết các loại thức ăn thô mà chúng ăn vào, đặc biệt là cỏ, vì vậy một lượng lớn cellulose và lignin trong cỏ vẫn sẽ còn sót lại sau quá trình tiêu hóa. Trong phân gia súc khô, cellulose, hemicellulose và lignin chiếm khoảng 70 đến 80%, còn lại là humus, nước và các chất vô cơ.

Đây chính là lý do tại sao phân gia súc sau khi được sấy khô có thể được sử dụng làm nhiên liệu, bởi vì nó chứa rất nhiều nguồn carbon. Khi đốt

Nhiệt trị của phân bò cừu ở các khu vực khác nhau có sự chênh lệch nhất định, điều này làm tăng độ khó trong việc quản lý nhiệt lượng trong quá trình phát điện; nếu phân bò cừu không được sấy khô trước khi vận chuyển, thì sẽ gây ra khó khăn và tăng chi phí vận chuyển, hơn nữa, mùi của nó rất khó chịu.

Đồng thời, giá của than đá dùng làm nhiên liệu chỉ khoảng 500–800 nhân dân tệ mỗi tấn.

Vì vậy, không có nhà máy điện nào sử dụng phân bò cừu làm nhiên liệu.

Tuy nhiên, một số người chăn nuôi ở vùng Mạc Nam, Tây Vực và các vùng có tuyết rơi nhiều ở Trung Quốc lại sấy khô phân bò cừu để sử dụng làm nhiên liệu trong cuộc sống hàng ngày.

Giang Miào Không phải vì vài trăm tấn phân bò cừu tươi mỗi ngày mà họ xây dựng một nhà máy điện riêng. Ông ấy đã nghĩ đến một công nghệ khác có thể sử dụng phân bò cừu đó, đó là pin nhiên liệu vi sinh vật.

Công nghệ pin nhiên liệu vi sinh vật là sử dụng các loại vi khuẩn có khả năng sản xuất điện bên ngoài tế bào, thông qua quá trình trao đổi chất, các electron được tạo ra và di chuyển, từ đó thực hiện việc phát điện sinh học.

Ưu điểm của công nghệ này là thân thiện với môi trường.

Nhược điểm là hiệu suất quá thấp; mỗi mét khối môi trường nuôi cấy chứa nguồn carbon cao chỉ có thể tạo ra khoảng 10–20 độ điện; trong khi đó, nếu đốt cháy trực tiếp để phát điện, có thể tạo ra khoảng 500 độ điện.

Hai phương pháp này không thể so sánh được với nhau.

Hơn nữa, con số về lượng điện tạo ra mỗi mét khối môi trường nuôi cấy chứa nguồn carbon cao cũng chỉ là kết quả đạt được trong điều kiện thí nghiệm rất tốt.

Chẳng hạn, trong một bài báo được công bố vào ngày 23 tháng 6 năm 2024, nhóm nghiên cứu do các nhà khoa học người Hoa Duan Xiangfeng và Huang Yu dẫn đầu đã phát triển một loại pin nhiên liệu vi sinh vật dạng chảy mới (MFFCs), thông qua việc sử dụng các chất trung gian điện tử nhân tạo để truyền điện tử từ quá trình trao đổi chất của vi khuẩn một cách hiệu quả trong môi trường chảy, mức độ công suất cao nhất có thể đạt được là 17,6 mW/cm² (tương đương 176 watt mỗi mét khối).

Theo dữ liệu thu thập được bởi Giang Miào, hệ thống thí nghiệm này chỉ có thể hoạt động trong môi trường phòng thí nghiệm khoảng 90 giờ, sau đó hiệu suất sẽ giảm mạnh.

Dựa trên con số này, nếu tính theo mét khối, trong giai đoạn phát điện ổn định, có thể tạo ra khoảng 15,84 độ điện; cộng thêm lượng điện phát ra ở giai đoạn công suất thấp sau đó, tổng cộng cũng chỉ khoảng 20 độ điện mà thôi.

Trong khi đó, các loại pin nhiên liệu vi sinh vật hoạt động trong điều kiện không phòng thí nghiệm, mức độ công suất cao nhất m

Vậy có khả năng thực hiện việc phát điện ổn định trong thời gian dài dưới điều kiện công suất cao không?

Câu trả lời là có.

Hiện tại, trong điều kiện không phải phòng thí nghiệm, tỷ lệ chuyển đổi năng lượng của các loại vi khuẩn phát điện ngoại bào chỉ đạt mức 10–30%, nhưng trong môi trường phòng thí nghiệm, con số này có thể lên tới 60–70%.

Và còn một điểm cần lưu ý đặc biệt:

Đó là hợp chất hữu cơ trong môi trường nuôi cấy KHÔNG PHẢI GIỐNG VỚI HỢP CHẤT HỮU CƠ MÀ CÁC LOẠI VI KHUẨN NÀY SỬ DUNG ĐỂ TÁI SINH NĂNG LƯỢNG.

Các loại vi khuẩn phát điện ngoại bào chỉ có thể phân hủy được một phần nhỏ các hợp chất hữu cơ.

Chẳng hạn, vi khuẩn Pseudomonas aeruginosa thuộc nhóm này chỉ có thể tiêu hóa các loại carbohydrate như glucose, xylose, tinh bột; các hợp chất chứa nitrogen như axit amin, urê; các chất béo như triglyceride, phospholipid; và các hợp chất thơm.

Từ đó có thể thấy rằng, nhiều loại vi khuẩn phát điện ngoại bào không thể tiêu hóa trực tiếp cellulose, hemicellulose và lignin có trong phân gia súc.

Nếu có thể phân hủy cellulose, hemicellulose và lignin thành glucose, monosaccharide và các hợp chất thơm, thì chúng sẽ có thể được một số loại vi khuẩn phát điện ngoại bào sử dụng trực tiếp.

Thực tế, đã có một số ít loại vi khuẩn phát điện ngoại bào có khả năng phân hủy cellulose, hemicellulose và lignin, nhưng hiệu quả của quá trình này khá thấp.

Bây giờ, việc cần làm là nghiên cứu và phát triển các loại vi khuẩn phát điện ngoại bào có khả năng phân hủy cellulose, hemicellulose và lignin một cách hiệu quả.

Thực tế, Liên minh Châu Âu đã có các nhóm nghiên cứu sử dụng công nghệ biến đổi gen để cải tạo vi khuẩn E. coli, giúp chúng có khả năng sản sinh điện thông qua quá trình trao đổi chất và đồng thời phân hủy một phần hemicellulose. Những nghiên cứu theo hướng này không quá khó đối với Giang Miào.

Việc lựa chọn và nuôi cấy các loại vi khuẩn phát điện ngoại bào chuyên biệt, hiệu quả cao chính là thế mạnh của Giang Miào. Anh ta thậm chí không cần sử dụng công nghệ biến đổi gen; chỉ cần áp dụng các yếu tố môi trường nhân tạo để buộc các vi khuẩn này phát sinh đột biến là được. Tốc độ sinh sản và đột biến của vi khuẩn rất nhanh, điều này rất thuận lợi cho việc nuôi cấy các chủng vi khuẩn chuyên biệt.

Bằng cách sử dụng điện trường, độ pH, hóa chất, phương pháp đông lạnh, nhiệt độ cao, tia cực tím, cùng với các môi trường nuôi cấy mô phỏng, chỉ trong vòng ba ngày, Giang Miào đã tạo ra được một loại vi khuẩn phát điện ngoại bào chuyên biệt.

Loại vi khuẩn này có nguồn gốc từ chủng Erwinia billingiae QL-Z3 thuộc chi

Và sau nhiều lần đột biến và chọn lọc nuôi cấy, loại vi khuẩn này không chỉ có khả năng phân hủy lignin mà còn có thể phân hủy cả cellulose và hemicellulose; tỷ lệ phân hủy cao nhất có thể đạt tới khoảng 97%.

Tất nhiên, tỷ lệ phân hủy tối ưu này chắc chắn không phải là điều dễ dàng để đạt được.

Chính xác hơn, loại vi khuẩn hoàn toàn mới này, được Giang Miào đặt tên là “Vi khuẩn phát điện Owen”, để đạt được tỷ lệ phân hủy tối ưu, cần phải đáp ứng bốn điều kiện rất khắt khe:

Thứ nhất, nhiệt độ môi trường sống phải từ 20 đến 28 độ C.

Thứ hai, vi khuẩn này cần phải sinh sống cùng với một loại vi khuẩn Gram âm đặc biệt; trong quá trình phát triển, loại vi khuẩn Gram âm này sẽ tiết ra các phân tử tín hiệu gọi là phân tử cảm ứng tập thể. Khi mật độ vi khuẩn đạt đến một ngưỡng nhất định, các phân tử tín hiệu này sẽ kích hoạt một loạt quá trình biểu hiện gen, thúc đẩy sự phát triển của cả hai loại vi khuẩn, và các sản phẩm chuyển hóa của chúng có thể hỗ trợ lẫn nhau.

Thứ ba, cần phải thêm một liều lượng nhất định của flavonoid từ cây đậu nành (có tính chất giống hormone estrogen) để kích thích Vi khuẩn phát điện Owen phát triển mạnh hơn và phân hủy lignin, cellulose, hemicellulose.

Thứ tư, nồng độ oxy trong môi trường phải đạt 32%.

Trên thực tế, trong quá trình thí nghiệm, Giang Miào cũng đã tìm thấy một số loại vi khuẩn đột biến có ít điều kiện sống hơn, nhưng chính vì những điều kiện đó quá ít ỏi mà Giang Miào không dám sử dụng chúng.

Bởi vì càng ít điều kiện sống, thì khả năng lan rộng của vi khuẩn trong tự nhiên càng mạnh mẽ. Và Vi khuẩn Owen là loại vi khuẩn phân hủy thực vật; nếu khả năng phân hủy lignin, cellulose, hemicellulose của nó quá mạnh mẽ mà lại không bị hạn chế bởi bất kỳ điều kiện nào về sự phát triển, thì chỉ trong vài năm thôi, chúng có thể khiến cho tất cả các loài thực vật trong tự nhiên bị tiêu diệt.

Nếu một trong những điều kiện trên không được đáp ứng, hiệu suất phân hủy của Vi khuẩn phát điện Owen sẽ giảm sút đáng kể.

Hơn nữa, loại vi khuẩn này không có khả năng chống lại các loại vi khuẩn bào tử phổ biến trong đất, đặc biệt là các sản phẩm chuyển hóa của vi khuẩn Bacillus subtilis; những chất này có thể khiến Vi khuẩn phát điện Owen không thể phát triển và dẫn đến cái chết hàng loạt của chúng.

Chính những điều kiện sống khắt khe này mà đã giúp Giang Miào tìm ra loại vi khuẩn này từ hàng tỷ loại vi khuẩn đột biến khác.

Khi các điều kiện sống đạt mức tối ưu, Vi khuẩn phát điện Owen chỉ cần 143 giờ là có thể phân hủy 97% cellulose, hemicellulose và lignin trong phân

Nhưng trong điều kiện phân hủy tối ưu này, lại không phải là điều kiện phát điện tốt nhất. Vi khuẩn phát điện Owen, khi hoạt động ở nhiệt độ 23 độ C, với liều lượng cụ thể của chất nhuộm từ đậu nành là flavonoid, và trong môi trường có 26,4% oxy, sẽ giảm công suất phát điện xuống còn 320 watt trên mỗi mét khối; tuy nhiên, thời gian hoạt động ổn định của nó có thể lên đến 360 giờ, và lượng điện sản sinh được khoảng 115 độ. Tuy nhiên, trong điều kiện này, lignin, cellulose và hemicellulose sẽ không bị phân hủy hoàn toàn, vẫn còn sót lại khoảng 20–30%.

Trước mắt Giang Miào là một chiếc pin đơn giản được chế tạo từ dung dịch phân bò. Để đảm bảo việc truyền electron trong dung dịch pin diễn ra hiệu quả, trong vài ngày tiếp theo, anh đã thử nghiệm nhiều loại vật liệu anot và catot khác nhau, nhằm tìm ra loại vật liệu vừa rẻ tiền vừa hiệu quả. Sau nhiều lần thử nghiệm, anh nhận ra rằng vật liệu mang lại hiệu suất truyền electron tốt nhất là tấm vàng dùng làm catot và thép không gỉ dùng làm anot; hiệu suất truyền electron khi sử dụng các vật liệu này có thể đạt khoảng 98%.

Tuy nhiên, việc sử dụng thép không gỉ làm anot cho loại pin này lại gặp phải một vấn đề nghiêm trọng: trong quá trình sử dụng, thép không gỉ sẽ dần bị ăn mòn; theo thời gian, hiệu suất truyền electron của anot bằng thép không gỉ sẽ ngày càng giảm, và dự kiến chỉ sau 500–600 giờ sử dụng, tấm thép không gỉ sẽ cần được thay thế. Vì vậy, Giang Miào đã chọn tấm graphite – vật liệu không bị tiêu hao – để làm anot, với hiệu suất truyền electron đạt 92%.

Còn về tấm vàng, vật liệu này cũng không bị tiêu hao; mặc dù việc sử dụng vàng làm catot cho pin có vẻ hơi xa xỉ, nhưng đây không phải là vật liệu tiêu hao. Chỉ sau thời gian dài sử dụng, lớp vàng tiếp xúc với dung dịch pin mới có thể bị di chuyển một lượng nhỏ; tuy nhiên, lượng vàng bị di chuyển rất ít. Theo dữ liệu thu thập được từ thiết bị đo lường, có lẽ phải mất hàng trăm năm thì lượng vàng bị di chuyển mới đạt đến một phần mười tổng lượng ban đầu.

Do điều kiện phản ứng phát điện tối ưu của vi khuẩn Owen khá khắt khe, và vì việc sử dụng tấm vàng đắt tiền làm catot, nên loại pin này chắc chắn không thể được sử dụng như nguồn điện di động. Tuy nhiên, nếu được sử dụng trong các thiết bị phát điện cố định, thì không gặp phải nhiều vấn đề. Năm rào cản trên đều có thể được khắc phục dễ dàng trong môi trường cố định: nhiệt độ có thể được điều chỉnh bằng hệ thống điều hòa trung tâm; hàm lượng oxy trong không khí có thể được đo lường bằng cảm biến và sau đó được tách ra thành oxy tinh khiết bằ

Một số loại vi khuẩn Gram âm nhất định có thể được nuôi cấy trên quy mô lớn.

Flavonoid từ đậu nành có thể được chiết xuất từ phụ phẩm đậu, và vì lượng sử dụng không nhiều, nên việc này không làm tăng đáng kể chi phí; tuy nhiên, đây vẫn là một nguyên liệu tiêu hao.

Vi khuẩn Gram âm và flavonoid từ đậu nành cũng là những nguyên liệu thiết yếu trong toàn bộ hệ thống, bởi chúng ảnh hưởng đến hiệu suất phân hủy của vi khuẩn sản sinh điện Owen, từ đó ảnh hưởng đến công suất phát điện. Điều này giúp cho công suất phát điện của loại pin vi sinh vật này trở nên dễ kiểm soát hơn rất nhiều.

Giang Miào đã ước tính rằng, trang trại nuôi trồng của chi nhánh Mò Nam hiện nay mỗi ngày sản xuất ra khoảng 300 tấn phân bò, cừu tươi (chứa 60–85% nước). Phân này có thể được khử trùng trực tiếp sau đó sử dụng để nuôi vi khuẩn sản sinh điện Owen và các loại vi khuẩn Gram âm đặc biệt, cùng với một lượng nhất định flavonoid từ đậu nành, để sản xuất ra 300 mét khối pin vi sinh vật.

300 mét khối pin vi sinh vật này có thể sản xuất ra khoảng 31.700 kWh điện. Nếu thiết lập được hệ thống tuần hoàn, mỗi ngày có thể sản xuất được 31.700 kWh điện, và trong một năm có thể sản xuất được tổng cộng 11,41 triệu kWh điện.

Tất nhiên, để thực hiện được hệ thống tuần hoàn này, cần phải chuẩn bị ít nhất 4.500 mét khối dung tích cho pin; xét đến vỏ ngoài và các thiết bị hỗ trợ khác, diện tích bên trong phòng phát điện cần phải đạt ít nhất 30.000 mét khối, tức là một nhà máy có diện tích sàn khoảng 5.000 mét vuông và chiều cao khoảng 6 mét. Việc tìm một khu đất công nghiệp dưới 8 mẫu vuông không phải là vấn đề gì lớn.

Nhưng điều khiến Giang Miào cảm thấy khó khăn thực sự là vật liệu dùng làm cực âm của pin – kim loại vàng. Anh ta đã thử nghiệm nhiều lần và dù cố gắng giảm lượng vàng sử dụng xuống mức tối thiểu, mỗi mét khối pin vẫn cần đến 0,4 kg vàng. Với 4.500 mét khối pin, sẽ cần đến 1.800 kg vàng.

Tất nhiên, thay vì vàng, cũng có thể sử dụng platin; platin có giá thành rẻ hơn một chút, khoảng 227 triệu nhân dân tệ mỗi tấn. Nếu quyết định sử dụng platin, với nguồn tài chính của công ty Hải Lục Phong, điều này vẫn khả thi.

Sau nhiều suy nghĩ, Giang Miào cuối cùng quyết định từ bỏ việc sử dụng vàng và platin làm vật liệu cực âm, thay vào đó chọn sử dụng các tấm manganese monoxide có độ tinh khiết cao, mặc dù hiệu suất chuyển dịch electron khi sử dụng vật liệu này chỉ đạt 86%.

Sau khi hoàn thành những thí nghiệm này, Giang Miào đã ở lại Mò Nam gần một tháng trời. Anh ta đã tiêu hủy tất cả các hồ sơ th

Trong số đó, 4 phần được anh ta cất giữ trong két sắt riêng dành cho chủ tịch tại căn cứ Tàm Mín Chá Khán.

6 phần còn lại được anh ta giao cho các tài xế vận chuyển của công ty, yêu cầu họ vận chuyển chúng về địa phương Sâm Mỹ theo ba tuyến đường khác nhau. Để phòng trường hợp bất ngờ xảy ra, anh ta đã lắp đặt một thiết bị đơn giản trong các bình chứa vi khuẩn; nếu ai đó cố tình mở chúng mà không có bảng điều khiển đặc biệt của anh ta, hỗn hợp axit clorhydric và nitric bên trong sẽ tạo thành dung dịch aqua regia, làm hỏng hoàn toàn các vi khuân sản xuất điện loại O’wen được lưu trữ bên trong.

Các bình chứa vi khuân được cất giữ tại căn cứ Tàm Mín Chá Khán cũng được trang bị cơ chế tương tự.

Tất nhiên, ngay cả khi người ta may mắn mở được các bình chứa đó một cách an toàn, thì các vi khuân bên trong vẫn cần phải được nuôi cấy trong điều kiện đặc biệt mới có thể phát huy hiệu quả; nếu không, chỉ có thể thu được một ít bột vi khuân vô dụng mà thôi.

Toàn bộ công nghệ liên quan đến hệ thống pin năng lượng vi sinh vật này đã được ghi nhớ rõ ràng trong đầu của Giang Miào.

Tuy nhiên, anh ta biết rằng loại công nghệ này có lẽ chỉ nên được giao cho Shuya để tiếp tục phát triển; điều này cũng đúng với công nghệ khai thác khoáng sản sinh học trước đây.

Thực ra, công nghệ này vẫn còn nhiều tiềm năng để được cải tiến thêm. Ví dụ, có thể cải thiện vật liệu dùng làm cực dương và cực âm để nâng cao hiệu suất chuyển dịch electron. Hoặc có thể tiếp tục tăng cường khả năng sản xuất điện của vi khuẩn… Theo tiến độ hiện tại của Giang Miào, vi khuân O’wen tạo ra khoảng 300 độ C năng lượng khi phân hủy chất hữu cơ; tuy nhiên, chỉ có khoảng 115 độ C năng lượng đó được chuyển hóa thành điện năng, tức là hiệu suất chỉ đạt khoảng 38% mà thôi.

1/1 0%