lore

Chương 36: Bí mật của nấm thông

9,437 Nhấn vào nội dung để bình luận hoặc báo lỗi.

Ngày 25 tháng 1. Có lẽ vì gần Tết nên thời tiết đã thay đổi so với những ngày mưa liên tục trước đó; hôm nay, cái nắng ấm áp hiếm khi xuất hiện.

Giang Miào triệu tập tất cả các nhân viên từ nơi khác đang chuẩn bị về quê và lấy ra một đống tiền lì xì lớn.

“Nào! Hãy làm việc chăm chỉ nhé!”

Một tờ tiền lì xì trị giá 888 nhân dân tệ được đưa cho họ.

Trương Tân Y vội vàng đón lấy và nói: “Cảm ơn sếp! Chúc sếp một năm mới an lành!”

“Chúc mừng Năm Mới!”

Rất nhanh sau đó, hơn hai mươi nhân viên này đều nhận được tiền lì xì Năm Mới trị giá 888 nhân dân tệ. Sau đó, họ mang theo hành lí lên năm chiếc xe bán tải của công ty để đi đến ga tàu cao tốc hoặc ga xe buýt.

Bên cạnh, Lâm Thư Nhã nhìn ngôi công ty vắng vẻ và cười nói: “Những ngày này chắc cô phải ở lại công ty phải không?”

“Ừ, công ty cần có người trong ban quản lý ở lại.”

“Tôi thì không có việc gì cụ thể phải làm. Việc thu thập mẫu vật từ miền nam Yunnan cần thời gian; hiện tại chúng tôi đã thu thập được khoảng 5 kg nấm thông; còn nấm matsutake thì phải đợi đến tháng Bảy hoặc Tháng Tám mới có hàng, nấm shiitake cũng vậy.”

Giang Miào cúi xuống vuốt ve con chó lớn màu vàng mà cô ấy mang theo từ quê nhà. Chính con chó này đã cứu cô khỏi tai nạn bị sét đánh. Anh ta vuốt đầu con chó rồi cho nó ăn một miếng thịt lươn.

“Việc nghiên cứu về nấm thông tiến triển đến đâu rồi?”

Lâm Thư Nhã giải thích: “Hiện nay, nhiều nơi đều đang nghiên cứu về kỹ thuật trồng trọt nấm thông đen và nấm thông trắng. Trong đó, Viện Nông Lâm Nghiên Cứu của thành phố Pan đã hoàn thành công nghệ trồng trọt trong môi trường mô phỏng tự nhiên vào năm 23.”

“Sản lượng trên mỗi mẫu ruộng chắc hẳn sẽ rất thấp phải không?”

“Đúng vậy.” Lâm Thư Nhã trả lời trong lúc cúi xuống nhìn con chó đang ăn thịt lươn.

Giang Miào đoán được rằng sản lượng trên mỗi mẫu ruộng của nấm thông trắng sẽ thấp, bởi vì giá cả trên thị trường đã phản ánh đúng tình hình sản xuất thực tế. Nếu Viện Nông Lâm Nghiên Cứu của thành phố Pan có thể thực hiện việc sản xuất nấm thông trắng trên quy mô lớn, thì giá cả trên thị trường chắc chắn sẽ giảm mạnh. Nhưng qua báo cáo của bộ phận mua sắm, Giang Miào biết rằng trong những năm gần đây, giá cả của nấm thông trắng luôn ổn định trong khoảng 400 đến 1000 nhân dân tệ mỗi kilogram, trung bình khoảng 580 nhân dân tệ mỗi kilogram. Vì vậy, nếu giá cả trên thị trường không giảm mạnh, thì có nghĩa là công nghệ của Viện Nông Lâm Nghiên Cứu

“Đại Hoàng, chúng ta đi thôi!” Giang Miào nói và kéo dây xích của con chó.

Họ bắt đầu hành trình trên con đường quê nhỏ dẫn đến trang trại Nông nghiệp Nam Hồ.

Ánh nắng mặt trời buổi sáng rực rỡ; mặc dù gió bắc vẫn còn thổi lạnh, nhưng ánh nắng vẫn mang lại chút ấm áp cho người đi đường.

Hai người cùng dắt Đại Hoàng đi dạo đến phòng thí nghiệm nấm ăn tạm thời của trang trại Nam Hồ.

Vài mươi phút sau…

Dưới chân sườn đồi phía bắc trang trại, họ tìm thấy phòng thí nghiệm được dựng bằng các container.

Sau khi thay đồ bảo hộ, Giang Miào nhìn thấy những gói chất liệu làm từ mùn cưa, đất, canxi oxit và thạch cao – tổng cộng hơn một trăm gói. Những gói này được pha trộn theo công thức khác nhau, và được chia thành 14 nhóm thử nghiệm, mỗi nhóm gồm 10 gói.

Thông qua bảng đánh giá, Giang Miào kiểm tra tình trạng phát triển của loại nấm Trắng trong các gói này.

Ba nhóm có tốc độ phát triển tốt hơn; khi nhìn vào nhãn mác, ánh mắt anh ta hiện lên vẻ ngạc nhiên. Bởi vì ba nhóm này sử dụng chất liệu đất từ khu vực sản xuất nấm Trắng ở Thành phố Phàn, hoặc những loại đất nhân tạo được pha chế dựa trên thành phần của đất đó.

“Quả nhiên, các nguyên tố vi lượng trong đất có ảnh hưởng lớn đến sự phát triển của nấm Trắng; đặc biệt là phosphor, magie, mangan và selenium.”

“Nhưng không chỉ cung cấp các nguyên tố này là đủ; nấm Trắng có khả năng hấp thụ và sử dụng chúng theo những cách khác nhau.”

“Chẳng hạn, trong đất có phosphate; nấm Trắng có thể sử dụng hiệu quả loại phosphate ở trạng thái kết hợp, nhưng chỉ khi độ axit-bazơ của đất phù hợp; còn các loại phosphate khác thì nấm Trắng không thể hấp thụ được.”

“Vì vậy, việc bổ sung dinh dưỡng cho nấm Trắng bằng phân bón hóa học là rất khó khăn; bởi vì chúng không thích các loại phân bón nhân tạo này… Chính xác hơn, chúng không có gen để hấp thụ chúng.”

“Giống như con người có những người bị không dung nạp lactose vậy; nấm Trắng cũng không thể hấp thụ tất cả các hợp chất vi lượng.”

“Ngoài ra, còn cần phải có điều kiện về nhiệt độ, độ ẩm và chất hữu cơ phù hợp mới có thể đảm bảo sự phát triển nhanh chóng của nấm Trắng.”

Giang Miào đeo găng tay và lấy một gói chất liệu lên: “Thư Yà, nhìn cái gói này xem… đã có sợi nấm mọc lên rồi đấy.”

“Tôi xem thử nhé.”

Lâm Thư Nhã vội vàng lấy ống kính phóng đại ra, quan sát kỹ lưỡng từng gói chất liệu bọc trong đó; Giang Miào cũng giúp cô ghi lại các dữ liệu tương ứng.

“Ồ, thật không ngờ à?”

Sau khi kiểm tra hết 140 gói chất liệu bọc, Lâm Thư Nhã lại xem lại những dữ liệu mà Giang Miào đã tổng hợp và thì thầm: “Đất được mang về từ thành phố Pán Quả thực có ảnh hưởng đến loài nấm Bạch Khối; hai nhóm đất nhân tạo mô phỏng đất của Pán Quả cũng cho kết quả tương tự.”

Giang Miào cười và gợi ý: “Chúng ta có thể thiết lập thêm các nhóm đối chứng, ví dụ như thử sử dụng phân bón hóa học hoặc các khoáng chất tự nhiên để tăng hàm lượng các vi chất dinh dưỡng trong đất trồng, xem liệu điều này có tạo ra sự khác biệt nào không.”

“Lời bạn nói có lý đấy… Có lẽ loài nấm Bạch Khối cần những chất dinh dưỡng tự nhiên mà không phải do con người tổng hợp, giống như công nghệ nhân tạo sinh sản cá chình mà bạn đã nghiên cứu.” Lâm Thư Nhã dường như đã hiểu ra điều đó.

Giang Miào tiếp tục: “Ngoài ra, sau Tết Nguyên đán, những luống rau trong nhà kính đó cũng cần được nâng cấp và cải tạo, để có thể kiểm soát được nhiệt độ, độ ẩm và độ sáng bên trong; chỉ như vậy mới có thể nghiên cứu được tất cả các điều kiện cần thiết cho sự phát triển của loài nấm Bạch Khối, kể cả những yếu tố thay đổi theo thời gian.”

“Và còn có độ axit-bazơ của đất nữa… Trong số 50 mẫu đất được thu thập từ Pán Quả, loại đất mà loài nấm Bạch Khối thích phát triển nhất là đất canxi bazơ, với độ axit-bazơ từ 8,1 đến 8,2; rõ ràng đây cũng là một yếu tố ảnh hưởng quan trọng. Hiện nay, nhiều loại phân bón hóa học đều làm thay đổi độ axit-bazơ của đất, và tôi e rằng chúng có thể gây ra những tác động không mong muốn đối với việc trồng loài nấm này.”

Lâm Thư Nhã ghi lại những ý kiến đó.

“Ngoài ra, các loại chất hữu cơ có trong đất được mang về cũng là một hướng nghiên cứu đáng quan tâm… Vì đây là loại nấm cộng sinh, cần phải phát triển gắn liền với rễ của những loại cây nhất định, điều này chứng tỏ rằng những cây đó cung cấp cho chúng những chất dinh dưỡng đặc biệt.”

Lâm Thư Nhã gật đầu đồng ý: “Đúng vậy… Có vẻ như tôi cần mở rộng quy mô thí nghiệm và tăng thêm các nhóm đối chứng, để có thể nắm rõ hết tất cả các điều kiện cần thiết cho sự phát triển của loài nấm Bạch Khối.”

Dù sao thì, nếu muốn sản xuất nấm truffle Bạch Khối trên quy mô lớn, chúng ta cần phải rút ngắn chu kỳ phát triển của chúng và đả

Vì vậy, việc nghiên cứu rõ ràng tất cả các điều kiện sinh trưởng của nấm trắng mới có thể áp dụng biện pháp phù hợp, giúp rút ngắn thời gian sinh trưởng mà vẫn giữ được hương vị đặc trưng của chúng.

Hiện nay, chu kỳ sinh trưởng của nấm trắng trong môi trường tự nhiên kéo dài từ 7 đến 8 năm; rõ ràng, khoảng thời gian này quá dài và không phù hợp với yêu cầu sản xuất thương mại.

Đây cũng là một trong những lý do khiến công nghệ trồng trọt bán tự nhiên của Viện Nông Lâm nghiên cứu Thành phố Phàn khó có thể được phổ biến rộng rãi.

Công nghệ của họ chỉ cho phép thu hoạch được từ 40 đến 60 kg nấm trắng mỗi mẫu ruộng; theo giá thị trường hiện tại, số tiền thu được vào khoảng 24.000 đến 36.000 nhân dân tệ.

Tuy nhiên, chu kỳ trồng trọt kéo dài tới bảy hay tám năm, và vào năm thu hoạch, chỉ có thể thu hoạch được trong vài năm liên tiếp; sau đó lại cần phải trồng lại hoặc để rừng phục hồi tự nhiên, nhằm đảm bảo rằng hàm lượng chất hữu cơ trong đất được phục hồi.

Rõ ràng, chi phí thời gian như vậy quá cao, và còn đi kèm với nhiều rủi ro lớn; không có nông dân nào sẵn lòng đầu tư bảy hay tám năm chỉ để thử nghiệm.

Giống như những năm gần đây, nhiều công ty sản xuất nấm nhỏ đã lừa gạt nông dân để họ trồng nấm móng giòn.

Liệu loại nấm này có thể trồng được không?

Có thể.

Điều kiện tiên quyết là cần sự hỗ trợ kỹ thuật từ các cơ quan nông lâm cấp tỉnh, và may mắn cũng rất quan trọng; nếu không, việc trồng nấm móng giòn một cách thiếu kinh nghiệm sẽ dẫn đến thất bại hoàn toàn.

Bởi vì nấm móng giòn rất kén về nhiệt độ và độ ẩm, và những yêu cầu này lại xung đột lẫn nhau; những lò ấm thông thường không có hệ thống điều khiển nhiệt độ và độ ẩm, nên việc trồng nấm này phụ thuộc hoàn toàn vào thời tiết.

Nếu may mắn, người trồng có thể thu hoạch được ngay từ năm đầu tiên.

Nhưng nếu không may mắn, việc không thu hoạch được gì trong nhiều năm liên tiếp cũng là chuyện bình thường.

Lý do Giang Miào không yêu cầu Lâm Thư Nhã nghiên cứu về nấm móng giòn chính là bởi vì công nghệ trồng trọt quy mô lớn cho loại nấm này đã được phát triển rồi; đó là việc sử dụng những lò ấm có hệ thống điều khiển nhiệt độ và độ ẩm đầy đủ, kết hợp với việc vệ sinh đất đai kỹ lưỡng, sẽ đảm bảo được việc thu hoạch liên tục.

Vấn đề là, chi phí thực hiện những biện pháp này quá cao, trong khi giá bán của nấm móng giòn lại không quá cao; điều này khiến giá trị thu được không đủ để bù đắp chi phí sản xuất, dẫn đến tổn thất

1/1 0%