lore

Chương 308: Những thái độ khác nhau

12,348 Nhấn vào nội dung để bình luận hoặc báo lỗi.

Nhà máy khử mặn nước biển Thắng Lợi, nằm gần khu vực mỏ dầu Thắng Lợi.

Sau ba tháng thi công liên tục, một đường ống dẫn nước trên không dài hơn 120 km đã được xây dựng, kéo dài từ Yongan đến gần Hữu Nhân.

Toàn bộ quá trình thi công đường ống này chỉ mất khoảng 96 ngày.

Hiện tại, trên đoạn đường thẳng dài khoảng 100 km từ Hữu Nhân hướng về phía Đức Châu, rất nhiều cơ sở có nền móng làm bằng bê tông đã được triển khai xây dựng.

Một chiếc phi thuyền vận chuyển lớn màu xanh lam đã treo lên một cây cầu trên không làm từ silicon xốp, nặng tới 2000 tấn, và bay từ nhà máy sản xuất vật liệu đặc biệt ở Yecheng đến gần Hữu Nhân.

Chiếc phi thuyền từ từ hạ cây cầu silicon xốp xuống đất, sau đó nhờ sự hỗ trợ của nhân viên trên mặt đất, cây cầu đã được kết nối chính xác với hai cơ sở có nền móng bê tông bên dưới.

Đồng thời, những đoạn ống dẫn nước bằng thép đã được vận chuyển đến hiện trường cũng được một chiếc phi thuyền công trình khác treo lên và đặt cẩn thận lên cây cầu trên không.

Mặc dù việc sử dụng phi thuyền để treo các đoạn ống đã giúp chúng được kết nối với những đoạn ống đã được lắp đặt trước đó, nhưng vẫn còn một số khe hở. Ngay lập tức, đội ngũ hàn điện đã tiến vào bên trong ống để hàn kín các khe hở đó.

Trong khi đó, tại nhà máy khử mặn nước biển Thắng Lợi, một phần nước đã được khử mặn và đang được đưa qua đường ống đến các khu vực như Kỷ Lợi, Lý Tân...

Tuy nhiên, lượng muối thô được sản xuất ra trong những ngày gần đây đã lên đến hàng trăm nghìn tấn. Ban đầu, nhà máy dự định sẽ áp dụng phương pháp mà các nhà máy khử mặn nước biển ở miền Nam đang sử dụng, đó là bảo quản muối thô trong các container làm từ sợi silic, sau đó sử dụng chúng để san lấp biển.

Nhưng sau khi nghiên cứu kỹ lưỡng, họ nhận ra rằng phương pháp này không thực sự phù hợp.

Một lý do quan trọng là diện tích của Biển Bột Hải khá nhỏ, và hàng năm các con sông như Hoàng Hà, Liêu Hà, Hải Hà đều đổ lượng lớn bùn đất vào Biển Bột Hải. Trong suốt hàng nghìn năm qua, lượng bùn đất này đã khiến diện tích của Biển Bột Hải giảm đi đáng kể.

Nếu tiếp tục sử dụng muối thô để san lấp biển, diện tích của Biển Bột Hải có thể sẽ bị thu hẹp thêm nữa. Vì Biển Bột Hải là một vùng biển nội địa, việc san lấp biển là một quyết định không hề khôn ngoan.

Do đó, công ty đã hợp tác với Viện Khoa học Trung Quốc, và sau nhiều tháng nghiên cứu và thảo luận, cuối cùng họ đã tìm ra một giải pháp thỏa hiệp.

Bên cạnh nhà máy khử mặn nước biển, người ta đã sử dụng vật liệu silicon xốp để mở rộng

Nếu nhìn từ trên cao xuống, có thể thấy những con tàu này có hình dạng rất vuông vắn, gần như là những khối hộp chữ nhật tiêu chuẩn. Thực ra, những con tàu này được chế tạo từ silicon xốp và sợi silicon làm nguyên liệu thô; mỗi cái, cùng với nội dung bên trong, có trọng lượng tối đa là 2000 tấn. Lý do tại sao lại là 2000 tấn là bởi vì hiện nay, trọng lượng tải hàng tối đa mà các phương tiện vận chuyển khí cầu có thể thực hiện là 2000 tấn. Tất nhiên, những con tàu hình vuông này không được vận chuyển bằng khí cầu, mà bằng các tàu kéo để vận chuyển qua đường biển đến vùng ven biển tỉnh Sú, nhằm sử dụng làm nguyên liệu cho việc san lấp đất biển. Lý do vì sao phải vận chuyển chúng đến vùng ven biển tỉnh Sú là: một mặt, Biển Đông thuộc về lãnh hải quốc tế, vì vậy việc san lấp đất biển sẽ không làm mất đi lãnh hải nội địa của mình; mặt khác, do tình hình khí hậu thay đổi nghiêm trọng trong năm nay, kể từ tháng Năm trở đi, mực nước biển ở các vùng ven biển trên toàn thế giới đã tăng lên rõ rệt. Theo xu hướng này, nếu băng giá Nam Cực tan chảy trên diện rộng, hậu quả sẽ là các vùng thấp trũng ven biển sẽ bị ngập hoàn toàn. Vì vậy, trong nước đã bắt đầu lên kế hoạch xây dựng các đê chắn sóng ven biển mới, đặc biệt là ở các vùng thấp trũng như ven biển tỉnh Sú, khu vực Dài Giang Tam Giác và khu vực Châu Giang Tam Giác – những nơi được coi là những vùng đất quan trọng của đất nước, và tất nhiên không thể để nước biển nuốt chửng chúng. Trước đây, việc xây dựng những đê chắn sóng quy mô lớn như vậy có lẽ sẽ khiến mọi người cho rằng đó là công việc tốn kém và vất vả, nhưng bây giờ thì khác rồi; vật liệu silicon xốp đã giúp giảm chi phí xây dựng xuống gần một nửa, và thời gian thi công cũng được rút ngắn khoảng một phần ba. Nhờ vậy, việc xây dựng các đê chắn sóng ven biển đã trở thành điều khả thi. Thực tế, các khu vực ven biển tỉnh Sú, khu vực Dài Giang Tam Giác và khu vực Châu Giang Tam Giác đã bắt đầu hành động; họ đã nhận được giấy phép kỹ thuật từ công ty Hải Lục Phong và đang sản xuất vật liệu silicon xốp với tốc độ cao, chuẩn bị xây dựng những đê chắn sóng ven biển có độ cao khoảng 20 mét. Đồng thời, để đảm bảo rằng việc này không ảnh hưởng đến giao thông hàng hải trong tương lai, các khu vực này cũng dự định xây dựng các đảo nhân tạo ở vùng biển nông ngay bên ngoài các đê chắn sóng, để sử dụng làm cảng hàng không nhân tạo mới. Không còn cách nào khác; hiện nay, Trung Quốc đã trở thành một trong những quốc gia giảm phát thải carbon tốt nhất thế giới, nhưng v

Dù ở trong nước chúng ta đã cố gắng giảm lượng khí carbon dioxide bằng cách cải tạo sa mạc và trồng đậu nành, nhưng điều này vẫn không thể ngăn chặn được lượng khí thải đang gia tăng trên toàn cầu.

Những thời tiết ngày càng cực đoan khiến chúng ta phải suy nghĩ về những tác động tiêu cực của việc mực nước biển dâng cao trong tương lai.

Vì việc ngăn chặn sự dâng cao của mực nước biển là điều gần như bất khả thi, nên việc chuẩn bị trước là công việc cấp bách hiện nay.

Tuy nhiên, dự án hợp tác với Ai Cập trước đây có thể giúp trì hoãn quá trình dâng cao của mực nước biển.

Khu vực đầm lầy đó rộng khoảng 15.000 km², ít nhất cũng có thể chứa một phần lượng nước biển mới tăng thêm.

Ngoài ra, lượng nước biển được các nhà máy lọc nước mặn thu hồi liên tục cũng có thể giúp giảm bớt một phần lượng nước trong đại dương.

Tuy nhiên, tất cả những dự án này chỉ mang lại tác động rất hạn chế so với tốc độ tan chảy của băng Nam Cực và băng Bắc Băng Dương. Việc mực nước biển dâng cao gần như là điều không thể tránh khỏi.

Hiện nay, muối thô sản xuất tại nhà máy lọc nước mặn Thắng Lợi được vận chuyển bằng những con tàu hình vuông, giống như những con tàu “mười chân” thường thấy trên Tuyến đường thủy Kinh-Hàng, đến vùng ven biển tỉnh Súc. Sau đó, các khoang kín nước của con tàu được đục thủng, và con tàu sẽ tự động chìm xuống đáy biển.

Thiết kế của con tàu này gồm ba khoang: hai khoang phía trước và sau dùng để chứa muối thô, còn khoang ở giữa có vai trò tạo lực nổi.

Trên bến cảng, một con tàu đã được chứa đầy muối thô; nhân viên sẽ đổ một lớp bùn vào trên bề mặt muối để tạo thành một lớp cách ly.

Tiếp theo, họ sẽ treo lên những tấm thép được phủ lớp vải silicon, sau đó cố định chúng chặt chẽ lại và hàn chúng lại với nhau bằng điện.

Một số nhân viên sẽ phun lớp sơn chống gỉ lên vị trí đã được hàn, đồng thời phủ thêm vài lớp vải silicon mỏng để tăng độ bền và khả năng chống ăn mòn cho toàn bộ bộ phận này.

Sau khi con tàu được niêm phong kỹ lưỡng, 20 con tàu như vậy sẽ được nối lại với nhau và được kéo bởi những con tàu chở hàng, di chuyển dọc theo tuyến đường ven biển, tiến về phía tỉnh Súc.

Những con tàu này đều là sản phẩm dùng một lần; khi đến nơi đích, các khoang tạo lực nổi sẽ được đục thủng.

Làm vật liệu san lấp cho các khu vực ven biển, chúng có thể giúp giảm đáng kể chi phí nguyên liệu san lấp, đồng thời tái sử dụng lượng muối thô thải ra.

Đồng thời, dọc theo bờ sông Hoàng Hà, một dự án khác cũng đã được triển khai, đó là dự án đào cát để xây đập

Không còn cách nào khác; cát sông Hoàng Hà khác với bùn đất của các con sông khác. Hạt cát sông Hoàng Hà có kích thước nhỏ hơn và bề mặt rất nhẵn, vì vậy chúng không thể được sử dụng làm vật liệu xây dựng. Nếu không, người ta đã sớm lấy cát từ sông Hoàng Hà để sử dụng rồi.

Việc triển khai dự án này, một mặt là để giải quyết vấn đề tình trạng tích tụ bùn đất ở hạ lưu sông Hoàng Hà; mặt khác, nó cũng cung cấp nguyên liệu cho các đê biển ở khu vực ven Biển Bột Hải.

Cát được lấy ra sau đó được đưa qua các nam châm điện từ lớn để loại bỏ phần cát sắt và một số kim loại từ tính có trong cát; những phần cát sắt này sau đó được sử dụng làm quặng sắt. Tiếp theo, cát được sàng lọc để tách ra những hạt có kích thước lớn hơn, sau đó được dùng làm vật liệu xây dựng.

Phần bùn đất còn lại được đổ vào những thùng chứa có hình dạng giống như thuyền vuông, sau đó được vận chuyển bằng khinh khí cầu đến khu vực ven Biển Bột Hải để sử dụng làm nguyên liệu xây dựng những “núi nhân tạo”.

Sau hơn một tháng liên tục lấy cát, một đê biển dài khoảng 20 mét đã được xây dựng gần sông Nam Pai.

Tuy nhiên, khác với muối thô, những thùng chứa đầy bùn đất sông Hoàng Hà này không được đậy kín mà hoàn toàn được để mở ngoài trời.

Để tăng thêm lợi ích kinh tế, những phần bùn đất trên những đê biển này được trồng các loại cây biến đổi gen, được sử dụng làm nơi trồng anh đào.

Người dân sống gần sông Nam Pai ban đầu rất ngạc nhiên, nhưng giờ đây họ đã quen với việc này.

Mỗi ngày, những chiếc khinh khí cầu vận tải lớn bay đi bay lại, vận chuyển những thùng chứa đầy bùn đất đến và xếp chúng lên đê như những khối xây dựng.

Nhìn thoáng qua, những đê này có vẻ không chắc chắn lắm… Nhưng nếu độ rộng của đê đạt vài km thì sao?

Đúng vậy; tiêu chuẩn thiết kế độ rộng của các đê ven Biển Bột Hải là ít nhất 5 km. Trừ khi gần đó có những khu vực cao hơn mực nước biển 30 mét, nếu không thì độ rộng của đê phải đạt 5 km mới đủ.

Như vậy, ngay cả những đê thủy lực thông thường cũng có thể chịu đựng được áp lực nước do sự gia tăng mực nước biển gây ra.

Và những khu vực trên những đê này có thể được sử dụng làm đất canh tác, vườn trái cây, đường xá và khu dân cư.

Con sông Hoàng Hà ở hạ lưu, sau khi liên tục được lấy cát, sẽ trở thành một con sông mới sâu hơn.

Tất nhiên, ngoài ra còn có một hồ nhân tạo nữa.

Chính quyền đã lên kế hoạch biến một phần sa mạc ở phía nam thành đất canh tác, sau đó sử dụng nơi đó làm khu định cư cho người di cư từ tỉnh Tề Lỗ, tỉnh Ký và tỉnh Duy.

Bở

Những hồ nhân tạo này không chỉ có thể lưu trữ lượng nước mưa dồn dập vào mùa hè mà còn giúp điều chỉnh khí hậu của khu vực Bắc Hoa Bình Nguyên, đồng thời phần bùn đất được khai thác ra cũng có thể được sử dụng làm nguyên liệu cho các đê chắn sóng ven biển.

Mặc dù phải hy sinh một phần đồng bằng, nhưng so với việc các vùng thấp trũng ven biển bị ngập lụt do mực nước biển dâng cao, thì đây vẫn là một kết quả khá tốt.

Còn về việc những hồ nhân tạo này có thể làm cạn kiệt nguồn nước của sông Hoàng Hà hay không, thì thực sự không cần phải lo lắng về vấn đề này.

Bởi vì hiện nay, các nhà máy xử lý nước biển mặn ở vùng Vịnh Bạch Hải đang mọc lên như nấm sau mưa; khi đó, nguồn nước ngọt liên tục được bổ sung vào các hồ này, thậm chí còn có thể giải quyết tình trạng thiếu hụt nguồn nước tại địa phương.

Về vấn đề lượng mưa do biến đổi khí hậu toàn cầu và mực nước biển dâng cao gây ra, thực tế là nhiều nhóm nghiên cứu khoa học thuộc Viện Khoa học Trung Quốc vẫn đang tranh luận về xu hướng này.

Không ai dám chắc rằng việc biến đổi khí hậu toàn cầu sẽ khiến khu vực Bắc Hoa Bình Nguyên nhận được nhiều nước mưa hơn.

Bởi vì hiện nay, khí hậu toàn cầu đang thay đổi đột ngột, ngày càng nhiều hiện tượng thời tiết cực đoan xuất hiện, khiến việc dự báo thời tiết trở nên càng ngày càng khó khăn.

Nếu xét trên quy mô một năm, có thể lượng mưa ở khu vực Bắc Hoa Bình Nguyên thực sự đã tăng lên.

Nhưng nếu xét trên quy mô hàng tháng, có thể sẽ xảy ra tình trạng mưa lớn trong mùa hè và hạn hán kéo dài vào mùa đông.

Tình huống này lại càng nguy hiểm hơn.

Cần biết rằng ở khu vực Bắc Hoa Bình Nguyên, người ta thường trồng lúa mì đông, và lúa mì đông cần có tuyết rơi vào mùa đông, với lượng tuyết phải đủ lớn mới tốt.

Nếu mùa đông ở khu vực Bắc Hoa Bình Nguyên không có tuyết, sản lượng lúa mì đông sẽ rất kém.

Do đó, việc xây dựng các hồ nhân tạo hiện nay cũng chính là để đối phó với tình huống này.

Những hồ nhân tạo này có thể lưu trữ nước trong mùa mưa, tăng khả năng chứa lũ tại địa phương, đảm bảo nguồn nước cho nông nghiệp vào mùa khô, đồng thời còn giúp điều chỉnh khí hậu cục bộ.

Sự xuất hiện của những dự án này chính là để đối phó với những tình huống khó lường trong tương lai.

Tuy nhiên, so với những nỗ lực tích cực của các nước trong nước, các nước ngoài lại có thái độ thụ động hơn nhiều.

Ngay cả những nước phát triển lâu đời như Châu Âu và Mỹ cũng tỏ ra không mấy quan tâm.

Thật vậy, ví dụ như nước Ameica, họ thực sự không quan

1/1 0%