lore

Chương 280: Không đề

7,286 Nhấn vào nội dung để bình luận hoặc báo lỗi.

Bên bờ biển huyện Changli, một nhà máy cũ nằm gần biển đã được công ty Hải Lục Phong mua lại và hiện tại việc cải tạo nhà máy này đã hoàn thành.

Nhà máy khử mặn nước biển của công ty Hải Lục Phong tại huyện Changli.

“Giám đốc, công ty đã nhận được giấy phép lấp đất rồi.”

“Đã nhận được à?” Giám đốc Đông Vĩ Hoa vội vàng lấy tờ giấy đó, xem kỹ một hồi rồi nở nụ cười: “Tốt quá, cuối cùng chúng ta cũng có thể bắt đầu sản xuất một cách thoải mái rồi.”

Giám đốc kỹ thuật của nhà máy, Nhân Phương Viên, cũng cười nói: “Giám đốc, với sức ảnh hưởng của ông chủ, chúng ta chắc chắn sẽ nhận được giấy phép, nhưng chúng ta cũng không thể lơ là được.”

“Tôi tự nhiên tin vào sức mạnh của ông chủ,” Đông Vĩ Hoa nhìn những thiết bị trong nhà máy và cũng mỉm cười. Sau một lúc, anh ngừng cười và tiếp tục nói: “Dù đây là tin tốt, nhưng chúng ta vẫn chưa thể bắt đầu sản xuất hết công suất được. Dù sao thì lượng nước mà nhà máy nước sinh hoạt địa phương cần cũng chỉ ở mức vừa phải, và chúng ta cũng chưa biết khi nào hệ thống đường ống vận chuyển nước sẽ được hoàn thành.”

Nhân Phương Viên, người đã theo dõi sự việc này trong những ngày qua, cười buồn và lắc đầu: “Giám đốc, có lẽ việc này không đơn giản như vậy.”

Mặc dù Bắc Hoa Bình Nguyên đang gặp tình trạng thiếu nước, nhưng không nghiêm trọng như ở khu vực Tây Bắc.

Đặc biệt là sau khi các loại thiết bị lọc nước mới bắt đầu được sản xuất hàng loạt, các nhà máy nước sinh hoạt ở các thành phố sử dụng những thiết bị này đều tăng cường công tác xử lý nước sinh hoạt và nước thải, làm cho tỷ lệ tái sử dụng nước trong thành phố tăng lên đáng kể.

Chẳng hạn như thành phố Thủ đô, nơi luôn phải đối mặt với tình trạng thiếu nước, vào năm 2027, lượng nước sử dụng cho mục đích sản xuất và sinh hoạt là 2,64 tỷ mét khối, với dân số cư trú thường xuyên là 22,07 triệu người, tức là mỗi người sử dụng trung bình 119,6 mét khối nước mỗi năm.

Con số này rõ ràng là còn thấp.

Bởi vì con số này chưa phân biệt giữa nước sinh hoạt và nước sản xuất; trong khi đó, lượng nước sử dụng trung bình hàng năm ở khu vực Lingnan có thể lên đến 316 mét khối, gần ba lần so với Thủ đô.

Tuy nhiên, sau khi các thiết bị lọc nước mới được đưa vào sử dụng, hệ thống cấp nước của Thủ đô đã thay đổi hoàn toàn, và tỷ lệ tái sử dụng nước liên tục tăng lên.

Dù là nước sử dụng cho mục đích công nghiệp, thương mại hay sinh hoạt, tất cả đều được tích hợp vào hệ thống tuần hoàn nước của thành phố.

Trong tình hình này, nhu cầu sử dụng nước khử mặn của Thủ đô th

Vì không còn thiếu nước nữa, nên cũng không cần đến động lực để thực hiện việc làm mềm nước biển nữa. Dù sao thì việc vận chuyển nước biển đã được làm mềm vào vùng đất liền cũng đòi hỏi rất nhiều chi phí. Mặc dù giá bán của nước tinh khiết sau quá trình làm mềm nước biển chỉ vài xu mỗi mét khối, nhưng chi phí xây dựng các đường ống vận chuyển và hệ thống hỗ trợ là rất lớn, và số tiền này càng tăng theo quãng đường vận chuyển. Trừ khi có thể sử dụng các con sông tự nhiên hoặc sự chênh lệch độ cao để vận chuyển nước một cách tự nhiên, nếu không thì chi phí đầu tư chắc chắn sẽ rất cao. Chỉ cần xem xét đến quy mô đầu tư của Dự án Đưa nước từ miền Nam ra miền Bắc, dựa trên Tuyến đường thủy Đại Vận Hà Kinh-Hàng, bạn sẽ hiểu được điều này. Hơn nữa, việc thực hiện quy mô lớn công việc làm mềm nước biển cũng khiến nhiều chuyên gia và học giả cảm thấy lo ngại. Một trong những vấn đề gây tranh cãi lớn nhất chính là sản phẩm phụ của quá trình này: muối thô. Mỗi mét khối nước biển được làm mềm sẽ tạo ra khoảng 35 kg muối thô. Nếu mỗi năm làm mềm 100 triệu mét khối nước biển, thì sẽ tạo ra 3,5 triệu tấn muối thô – lượng muối thô lớn như vậy rất khó để xử lý. Ngành hóa chất có thể sử dụng một hai chục triệu tấn muối thô, nhưng nếu quy mô làm mềm nước biển tăng lên, lên đến hàng tỷ mét khối mỗi năm, thì lượng muối thô tạo ra sẽ lên đến hàng trăm triệu tấn, và hệ thống hóa chất hoàn toàn không thể xử lý hết lượng muối này. So với tốc độ chậm rãi của nhà máy làm mềm nước biển ở huyện Changli, nhà máy làm mềm nước biển ở thành phố Qiongzhou Ganen lại đang phát triển mạnh mẽ, đặc biệt là sau khi nhận được giấy phép cho dự án lấp đầy biển để mở rộng đất đai. Tại sao lại cần phải xin phép thực hiện dự án này? Câu trả lời chính là để xử lý lượng muối thô này. Sử dụng muối thô để lấp đầy biển ư? Đúng, nhưng không hoàn toàn như vậy. Hiện nay, công ty Hailufeng đang sử dụng vật liệu silicon bean thread làm lớp lót bên trong, sau đó mới đổ bê tông; họ sử dụng rất nhiều silicon bean thread thay thế cho thép cáp để tạo ra những thùng chứa muối có kích thước lớn. Sau khi chứa đầy muối, những thùng này được niêm phong hoàn toàn và sau đó được sử dụng bằng khinh khí cầu để đưa đến các khu vực được quy hoạch ven biển để thực hiện việc lấp đầy biển. Những thùng chứa này có thể sử dụng được trong khoảng 70–80 năm, vì vậy vẫn cần phải tiến hành các bước xử lý tiếp theo. Để đảm bảo rằng những thùng chứa này không bị rò rỉ trên diện rộng, cần phải xây dựng một lớp chắn d

Độ sâu của biển dọc theo bờ biển thành phố Gǎn Ân không quá lớn; với 14 triệu mét khối các thùng chứa đầy này, có thể lấp đầy khoảng 2000 mẫu đất biển.

Thông tin mới nhất được đăng tải đầu tiên trên diễn đàn sách số 69!

Nói cách khác, sáu nhà máy điều hòa nước biển ở thành phố Gǎn Ân này có thể lấp đầy khoảng 2000 mẫu đất biển mỗi năm.

Tất nhiên, khi khu vực được lấp đầy mở rộng ra xa bờ hơn, độ sâu của biển sẽ tăng dần, và diện tích có thể được lấp đầy để tạo đất liền cũng sẽ giảm dần.

Tuy nhiên, việc lấp đầy này có lẽ cần phải sử dụng đất đá để lấp đầy các khe hở, đồng thời cần xem xét đến việc xây dựng nền móng, vì vậy cần phải thi công các đê chắn trước.

Dự án lấp đầy biển để tạo đất liền này cũng là một ưu điểm đặc biệt của đảo Qiongzhou; nếu thực hiện ở vịnh Bô Hải – nơi thuộc vùng biển nội địa – thì việc này sẽ rất kém hiệu quả, bởi vì nó sẽ làm giảm diện tích vùng biển nội địa và ảnh hưởng đến môi trường sinh thái của vịnh Bô Hải.

Còn nếu thực hiện ở các vùng ven biển của tỉnh Sơn Đông hoặc tỉnh Giang Tô, nơi tiếp giáp với biển Hoàng Hải và biển Đông, thì tác động của việc lấp đầy biển để tạo đất liền sẽ không quá lớn.

Sau hàng trăm năm, những khu đất được tạo ra từ việc lấp đầy biển này sẽ hình thành thành những mỏ muối nhân tạo dưới lòng đất; những mỏ muối này có thể được sử dụng làm nguồn dự trữ tài nguyên, tạo thành đất liền, đồng thời cung cấp một lượng lớn nước ngọt.

So với việc lưu trữ muối trên đất liền hoặc chôn vùi chúng trong các hang động bỏ hoang, phương pháp này an toàn hơn nhiều, không chiếm nhiều diện tích, đồng thời giúp tái sử dụng những nguồn tài nguyên này một cách hiệu quả.

Khi dự án lấp đầy biển để tạo đất liền tiếp tục mở rộng ra xa bờ, những khu đất mới được tạo ra sẽ nằm ở phía ngoài, còn những khu đất cũ sẽ nằm ở phía trong; ngay cả khi các thùng chứa bị hỏng hoặc nứt vỡ, cũng không có khả năng gây ra sự cố rò rỉ lớn.

Trừ khi xảy ra động đất lớn, làm cho những khu đất này bị xé rách hoặc chìm xuống đáy biển, thì mới có khả năng gây ra sự cố rò rỉ quy mô lớn.

Tuy nhiên, khu vực ngoài khơi thành phố Gǎn Ân không thuộc vùng địa chấn truyền thống; nếu thực hiện dự án này ở gần eo biển Qiongzhou, thì thực sự cần phải xem xét khả năng xảy ra động đất lớn trong tương lai, bởi vì trong lịch sử, thành phố Cây Dừa ở Qiongzhou đã từng bị động đất lớn tấn công, khiến một ph

1/1 0%