lore

Chương 350: Nông nghiệp đô thị hóa

14,906 Nhấn vào nội dung để bình luận hoặc báo lỗi.

Bên trong cơ sở nghiên cứu khoa học của huyện Giép Tây.

Sau khi cơn bão đi qua, Giang Miào đã trở về khu vực thành phố Sán Mỹ, để lại Ah Hải và những người khác tiếp tục đảm nhận công việc nghiên cứu khoa học mà họ đã bắt đầu trước đó. Ngoại trừ dự án về các thí nghiệm nhân bản không có não bộ.

Lúc này, phần lớn các nhà nghiên cứu tại cơ sở đều không tham gia vào dự án đó, mà đang tập trung nghiên cứu các loại thực vật mới được tạo ra. Mặc dù việc yêu cầu Ah Hải và nhóm của anh ấy tạo ra những loại thực vật hoàn toàn mới có phần khá khó khăn, nhưng nếu chỉ là sao chép các mô hình hiện có thì họ hoàn toàn có thể làm được.

Chẳng hạn, họ đã mô phỏng công nghệ gốc cây biến đổi gen mà Giang Miào từng sáng tạo ra, và tái tạo ra rất nhiều loại gốc cây biến đổi gen mới. Những loại gốc cây này được coi là “loại mới” bởi vì chúng có những đặc điểm độc đáo riêng.

Một trong những đặc điểm nổi bật nhất của chúng là chúng được thiết kế riêng cho loài thực vật Thông Thiên Liên, và có thể sống sót sau khi được ghép vào thân chính của Thông Thiên Liên, đồng thời hấp thụ dinh dưỡng từ Thông Thiên Liên để phát triển mạnh mẽ. Có rất nhiều loại gốc cây này, bao gồm hầu hết các loại cây trồng thông thường, điều này có nghĩa là chúng có thể được dùng để ghép nối với nhiều loại cây trồng khác nhau.

Tất nhiên, để thuận tiện cho việc thu hoạch và sử dụng, hầu hết các loại gốc cây này đều được ghép với những loại cây cho quả. Chẳng hạn như các họ Bí, Hoàng lian, Hồng và Cà, những họ cây này chiếm phần lớn các loại cây cho quả.

Đây cũng chính là những loại gốc cây mà các nhà nghiên cứu chủ yếu tập trung phát triển lần này. Trong một khu vực trồng cây trong nhà, một loại Thông Thiên Liên có sự cân bằng dinh dưỡng tốt hơn so với các loại khác đang được trồng ở đây. Nhà nghiên cứu Đinh Tiên Ngư chính là người đề xuất dự án này; ông đã thấy Giang Miào loại bỏ những giống Thông Thiên Liên có sự cân bằng dinh dưỡng tốt hơn này, và nghĩ rằng chúng không nên bị lãng phí. Sau vài ngày suy nghĩ, ông đã nộp đơn xin thực hiện dự án này với bộ phận nghiên cứu khoa học.

Hiện tại, trên thân chính của những cây Thông Thiên Liên này đã được ghép nhiều loại gốc cây biến đổi gen thuộc họ Hoàng lian, và trên những gốc cây đó lại tiếp tục được ghép thêm loại chanh thơm lai tạo.

“Kết quả trồng trọt như thế nào?”

Nghe thấy câu hỏi của Đinh Tiên Ngư, sinh viên tốt nghiệp mới ra trường đang thực tập kiêm trợ lý nghiên cứu, Chang Shaohua, vội vàng trả lời: “Anh trai, tôi đã thống kê kết quả trồng trọt trong vài ngày vừ

Trong lúc nói chuyện, anh ta vừa mở bảng thống kê trên máy tính bảng văn phòng.

Đinh Tiên Ngư nhìn vào dữ liệu trong bảng thống kê và hỏi: “Sau khi lứa quả đầu tiên chín, mỗi mẫu đất có thể thu hoạch được khoảng 80 kg quả mỗi ngày, phải không? Còn về kết quả kiểm tra các chất tạo hương thì sao?”

“Ở đây này…”

Anh ta lật qua một thư mục khác.

“Quả chanh thơm trong giai đoạn chín, lượng các chất tạo hương tích tụ cao gấp từ 1,3 đến 1,7 lần so với chanh thơm thông thường, đúng không?”

Một nhà nghiên cứu khác tên là Dị Thông Số đã hái một quả chanh thơm đã vàng úa từ cành, sau đó xát nhẹ lên bề mặt quả; mùi thơm nồng nàn liền lan tỏa ra xung quanh.

“Thực sự rất thơm.”

“Có vẻ như nguồn dinh dưỡng cung cấp bởi Thông Thiên Liên rất dồi dào, khiến cho số lượng quả chanh thơm không chỉ tăng lên đáng kể mà tốc độ tích tụ các chất tạo hương cũng được nâng cao.”

Nhưng Dị Thông Số lại phản bác: “Việc tích tụ các chất tạo hương không chỉ phụ thuộc vào dinh dưỡng mà còn bị ảnh hưởng bởi các yếu tố môi trường bên ngoài nữa.”

“Đúng là vậy…” Đinh Tiên Ngư không phủ nhận điều này, nhưng ông vẫn nhắc nhở: “Yếu tố môi trường quan trọng, nhưng yếu tố then chốt nhất vẫn là nguồn dinh dưỡng đầy đủ; nếu không, tốc độ tích tụ các chất tạo hương sẽ không thể nhanh đến thế.”

Tại sao nhiều người lại thấy dưa hấu và dưa lưới từ Tây Vực ngon hơn?

Câu trả lời nằm ở việc lượng các chất tạo hương trong những loại quả này cao hơn.

Sự chênh lệch nhiệt độ giữa ban ngày và ban đêm, ánh nắng mặt trời gay gắt vào ban ngày, và khí hậu khô hanh ở Tây Vực sẽ liên tục kích thích cây trồng, khiến chúng phát triển cơ chế tự bảo vệ và tiết ra nhiều loại chất để thích nghi với môi trường. Trong số những chất này, có những thành phần tạo nên hương vị đặc biệt cho quả.

Vậy tại sao dưa hấu trồng trong nhà kính thông thường lại có hương vị kém hơn?

Nguyên nhân chính là do thiếu sự kích thích từ môi trường.

Trong nông nghiệp nhà kính truyền thống, việc sản sinh các chất tạo hương thường đi ngược lại với tốc độ tăng trưởng và sản lượng của cây trồng.

Nếu muốn có hương vị đặc biệt, bạn buộc phải hy sinh tốc độ tăng trưởng hoặc sản lượng; ngược lại, nếu muốn tăng tốc độ tăng trưởng và sản lượng, bạn sẽ phải hy sinh hương vị.

Nguồn gốc của mâu thuẫn này chính là nguồn dinh dưỡng hiện có của cây trồng chỉ đủ để đảm bảo một hoặc hai khía cạnh phát triển xuất sắc, chứ không thể giúp chúng trở thành những sản phẩm nông nghiệp chất lượng cao.

Tuy nhiên, nếu sử dụ

Chẳng hạn như loại bưởi Thiên Hương mà công ty Yitongshu đã nuôi trồng – loại cây này chỉ trong vòng ba tháng là có thể tích lũy được lượng chất tạo hương cao gấp hàng chục lần so với các loại cam thông thường, ngay trong các tế bào dầu trên vỏ quả.

Hơn nữa, năng suất trên mỗi mẫu đất của bưởi Thiên Hương cũng rất cao; mỗi ba tháng, có thể thu hoạch được khoảng 3000 kilogram bưởi Thiên Hương.

Ngoài ra, còn có loại bưởi Nhật Bản được nhập khẩu từ Đông Dương – đây là một trong những nguyên liệu thô để sản xuất gia vị, và loại bưởi này có hương vị đặc biệt riêng. Loại bưởi này là đặc sản của tỉnh Kōchi ở Nhật Bản; mỗi năm chỉ sản xuất được khoảng 40.000 ton quả tươi, và mỗi năm chỉ cho quả một lần duy nhất.

Tuy nhiên, khi trồng loại bưởi này trong các trang trại nhà kính tại căn cứ, mỗi năm có thể thu hoạch được tới bốn lần, với năng suất trên mỗi mẫu đất khoảng 3000 kilogram mỗi lần; như vậy, tổng năng suất trên mỗi mẫu đất gần như tăng gấp bốn lần so với trước đây.

Điều đáng chú ý hơn nữa là lượng chất tạo hương trong loại bưởi Nhật Bản được trồng theo phương pháp này cao hơn khoảng 1,5 đến 2,4 lần so với loại được trồng ngoài trời tại nguồn gốc.

Đó chính là sức mạnh của công nghệ. Bất kỳ loại cây trồng nào sử dụng Thông Thiên Liên làm gốc ghép đều sẽ có năng suất tăng lên từ 4 đến 6 lần. Chính nhờ vào sự tăng vọt này, cùng với việc có thể sản xuất ra lượng chất tạo hương vượt mức mong đợi, mô hình nông nghiệp mới này đã trở thành đối tượng được Trung tâm Nghiên cứu Thương mại quan tâm đặc biệt.

Vừa rồi, cơn bão vừa mới tan đi… Trung tâm Nghiên cứu Thương mại đã tổ chức một nhóm điều tra đến kiểm tra dự án này. Các nhà nghiên cứu như Đinh Tiên Ngư và Yitongshu cũng nhận được thông báo từ giám đốc hàng ngày của căn cứ, ông Phàng Đỉnh.

Đinh Tiên Ngư cùng những người khác vội vàng đến trang trại nhà kính trồng chanh thơm này; lần này không chỉ có họ, mà còn có năm sáu nhân viên điều tra từ Trung tâm Nghiên cứu Thương mại nữa.

Người đứng đầu nhóm điều tra, ông Hàn Huệ Thái, nhìn thấy những quả chanh thơm trĩu trịch trên những cành ghép, liền quay sang hỏi nhỏ: “Nghiên cứu viên Đinh, với một mẫu đất trồng chanh thơm như thế này, mỗi năm cần đầu tư bao nhiêu chi phí?”

Ngay lập tức, trợ lý nghiên cứu Chang Shaohua lấy ra máy tính bảng và hiển thị bảng thống kê chi phí: “Trưởng nhóm Hàn, đây là bảng thống kê chi phí của chúng tôi; tuy nhiên, đây là chi phí đối với các trang trại nghiên cứu khoa học, có thể sẽ khác với chi phí của các trang trại nhà kính thông thường.”

Ông Hàn Huệ Thái cười nhận l

Một nhóm các chuyên gia khảo sát đã cúi đầu tính toán trong hơn hai mươi phút.

“Mỗi mẫu đất mỗi năm cần khoảng 8.300 nhân dân tệ để đầu tư, và mỗi mẫu đất có thể sản xuất được 12.000 kg chanh thơm mỗi năm? Vậy chi phí trung bình cho mỗi kg chanh thơm là 0,69 nhân dân tệ?”

“Chi phí này cũng khá ổn, nếu giá bán lẻ hiện tại của chanh thơm trên thị trường là từ 4,3 đến 6,7 nhân dân tệ mỗi kg.”

“Không thể tính như vậy được; chúng ta còn cần xem xét đến chi phí thu hoạch, vận chuyển, đóng gói và bán lẻ, cùng với việc giá cả sẽ giảm khi sản xuất quy mô lớn.”

“Nếu sử dụng các kênh phân phối của công ty, đến khi sản phẩm đến tay người tiêu dùng cuối cùng, chi phí sẽ vào khoảng 1,2 nhân dân tệ mỗi kg. Vì vậy, giá bán lẻ ít nhất phải gấp đôi chi phí đó, tức là khoảng 2,4 nhân dân tệ mỗi kg. Xét đến yếu tố chiết khấu và tổn thất, tôi nghĩ rằng giá bán lẻ cuối cùng không nên thấp hơn 2,8 nhân dân tệ mỗi kg.”

Han Hui Tai và những người khác đang thì thầm thảo luận về những điều này.

Còn về việc áp dụng mô hình nông nghiệp này trên quy mô lớn liệu có khiến nhiều nông dân mất việc không? Câu trả lời chắc chắn là không.

Bởi vì các trang trại đều cần ngày càng nhiều lao động viên.

Đối với nền nông nghiệp truyền thống phụ thuộc vào thời tiết, công ty Hải Lục Phong luôn mong muốn thay đổi tình hình này và chuyển đổi nó thành nông nghiệp trong nhà.

Đặc biệt là đối với một số loại cây trồng đặc sản, nhiều loại trong số đó không thích hợp để sản xuất trên quy mô lớn bằng máy móc; chúng thường được trồng ở vùng núi hoặc các khu vực xa xôi. Những đặc điểm này khiến cuộc sống của nông dân khó có thể được cải thiện một cách căn bản.

Ví dụ, việc trồng dược liệu ở vùng Dãy núi Đại Bạch Sơn có thể mang lại thu nhập khá cao, nhưng những thứ mà họ có thể nhận được thì chắc chắn ít hơn so với những người sống ở thành phố lớn.

Các thị trấn nhỏ và làng mạc là những cấu trúc xã hội đầy bất lực và nan giải.

Những nguồn lực giáo dục, y tế, phát triển và dịch vụ mà chúng có thể cung cấp cho người dân địa phương thường có chất lượng kém và lượng cung hạn chế.

Điều này là do quy mô nhỏ của các thị trấn và làng mạc quyết định.

Không phải mọi thành phố đều có Giang Miào đảm bảo việc sắp xếp ngành công nghiệp và việc làm một cách chu đáo, cung cấp đủ mọi dịch vụ cần thiết.

Nguồn lực của các thị trấn nhỏ thông thường không chỉ không thể sánh kịp với Bắc Kinh, Thượng Hải, Quảng Châu hay Thâm Quyến, mà ngay cả so với các thành phố tỉnh lỵ địa phương, cũ

Mà là tìm mọi cách để đổ xô người dân ra thủ phủ tiêu dùng.

Nói cho cùng, lý do chính là nguồn lực ở các thành phố nhỏ quá ít.

Nếu có thể tập trung dân số nhiều hơn nữa, hình thành những cụm đô thị với quy mô khoảng 5 triệu người, thì những cụm đô thị này sẽ tạo thành những thị trường lớn, từ đó phát huy hiệu ứng quy mô.

Lúc đó, chỉ còn lại 280 cụm đô thị trong nước, nhưng thị trường nội bộ lại có thể được mở rộng thêm nữa.

Rất nhiều người ở nông thôn, ở các thị trấn và xã không phải là không muốn tiêu dùng; đôi khi chỉ là địa phương đó không có những sản phẩm hay dịch vụ đó mà thôi.

Vậy để thực hiện điều này, điều kiện tiên quyết là phải mở rộng quy mô việc làm trong đô thị, phải không?

Làm thế nào để mở rộng quy mô việc làm trong đô thị?

Câu trả lời là đưa nông nghiệp vào trong nhà, vào các tòa nhà cao tầng.

Với nguồn lực kỹ thuật hiện có của công ty Hải Lục Phong, thực tế đã đáp ứng đầy đủ mọi điều kiện cần thiết để đưa nông nghiệp vào trong nhà.

Những loại cây trồng thực hiện quá trình quang hợp với hiệu suất sử dụng năng lượng cao hơn.

Những thiết bị nhiệt hạch có thể kiểm soát được, đã được sản xuất hàng loạt một cách bí mật.

Những tấm pin quang điện khổ lớn và những chiếc khinh khí cầu quang điện.

Các công nghệ tuần hoàn nước hiệu quả và tiết kiệm năng lượng.

Các kỹ thuật có thể ghép nối với nhiều loại cây trồng truyền thống.

Và còn có những robot nông nghiệp đang phát triển mạnh mẽ.

Những vật liệu xây dựng giá rẻ nhưng bền chắc.

Tất cả những điều kiện này cùng nhau tạo nên nền tảng cho nông nghiệp trong nhà, biến nông nghiệp thành một mô hình rất đáng để thử nghiệm.

Chỉ khi đưa nông nghiệp vào trong nhà, mới có thể giúp nông thôn hòa nhập vào đô thị, tránh được thời gian di chuyển xa xôi, giúp nông dân có thể sinh sống và làm việc trong đô thị, thay vì sống trong đô thị nhưng làm việc ở nông thôn hoặc các thị trấn nhỏ.

Còn về việc tập trung dân số quy mô lớn như vậy trong đô thị, liệu có gây ra những “bệnh tật của đô thị” không?

Thực ra, cái gọi là “bệnh tật của đô thị” không phải là một khái niệm cố định, mà là một khái niệm luôn thay đổi theo sự phát triển của thời đại và công nghệ.

Ví dụ, trong thời cổ đại, để duy trì một thành phố với dân số một triệu người, có thể cần phải sử dụng toàn bộ nguồn lực của cả đất nước mới có thể nuôi sống được họ, và điều kiện sống ở đó cũng rất tồi tệ.

Đến thời hiện đại, giới hạn dân số của các đô thị lớn nhanh chóng tăng lên đến khoảng năm triệu người.

Và đến thế kỷ 21 ngày nay, giới hạn dân số của các

Với dân số 5 triệu người, đây cũng chính là con số tối đa phù hợp mà Trung tâm Nghiên cứu Xã hội của công ty Hải Lục Phong đã tính toán ra thông qua nhiều mô hình và dữ liệu khác nhau.

Hiện nay, diện tích trồng trọt các loại cây trái đặc sản và cây trồng khác trong nước khoảng 600 triệu mu.

Nếu tất cả đều được trồng trong nhà, với các tòa nhà nông nghiệp có 20 tầng làm tiêu chuẩn, kết hợp với các công nghệ mới giúp tăng năng suất trên mỗi mu lên từ 4 đến 6 lần, thì cả nước chỉ cần xây dựng khoảng 600 triệu mu tòa nhà nông nghiệp là có thể duy trì được năng lực sản xuất hiện tại của các loại cây trái đặc sản và nông sản khác.

600 triệu mu có nhiều không?

Thực ra, đó chỉ khoảng 4000 km², tức là chưa đến 0,4% diện tích cả nước, tương đương với diện tích đất liền của 4 thành phố Hương Cảng cộng lại.

Nếu tất cả diện tích trồng trọt các loại cây trái đặc sản trong nước đều được chuyển sang các tòa nhà nông nghiệp trong nhà, thì nhiều vấn đề về mâu thuẫn giữa dân số và đất đai ở nhiều khu vực sẽ được giải quyết triệt để.

Điều này cũng sẽ mở rộng đáng kể không gian sinh sống cho loài người.

Chỉ cần thực hiện được ý tưởng này, thì số lượng người mà Trái Đất có thể chứa đựng sẽ tăng lên trên 100 tỷ người.

Mặc dù đây chỉ là việc tính toán tiềm năng nông nghiệp mà chưa xét đến ngành công nghiệp hay tài nguyên khoáng sản, nhưng nếu chỉ cần dân số tăng gấp đôi, đối với Liên minh Châu Á vào thời điểm đó, việc duy trì sự ổn định là hoàn toàn khả thi.

Tuy nhiên, quá trình đô thị hóa quy mô lớn như vậy chắc chắn sẽ dẫn đến một hậu quả khác, đó là tỷ lệ sinh giảm xuống một lần nữa.

Đây chính là kết quả có khả năng xảy ra khi đô thị hóa diễn ra.

Để giải quyết vấn đề tỷ lệ sinh giảm do đô thị hóa gây ra, nhiều tổ chức nghiên cứu xã hội đang tìm kiếm giải pháp.

Trung tâm Nghiên cứu Xã hội của công ty Hải Lục Phong cũng đã đề xuất một số giải pháp đặc biệt nhằm giải quyết vấn đề này.

Một trong những giải pháp đó đã được lên kế hoạch thử nghiệm tại một số thành phố.

Giải pháp đó chính là “thành phố vườn”.

Theo định nghĩa, thành phố vườn là việc phá bỏ mô hình “lồng chim” truyền thống, thông qua việc mở rộng không gian ba chiều để tăng diện tích sống trung bình cho mỗi người.

Diện tích nhà ở tiêu chuẩn phải đảm bảo ít nhất 50 mét vuông cho mỗi người, cùng với các khu vườn riêng tư, sân hoa, cỏ cây, v.v., tổng diện tích phải đạt ít nhất 100 mét vuông cho mỗi người.

Với tiêu chuẩn này, làm thế nào để đảm bảo các tòa nhà ca

1/1 0%