lore

Chương 216: Nước lạnh

11,317 Nhấn vào nội dung để bình luận hoặc báo lỗi.

Sau khi công ty Hải Lục Phong và công ty Hải Cảnh hợp tác thành lập công ty con, họ nhanh chóng tìm các doanh nghiệp liên quan để thiết lập một đường cáp điện. Giang Miào Lúc này, đường cáp này được đặt tại cơ sở nuôi trồng thủy sản ở Lục Phong.

Cơ sở nuôi trồng này chính là nơi mà trước đây công ty nuôi cá hồi Na Uy dự định đầu tư. Diện tích khu đất khoảng 5460 mẫu, trong đó diện tích dùng để nuôi trồng là 4500 mẫu, còn các cơ sở hạ tầng phụ trợ khác chiếm 946 mẫu.

Sau khi công ty Hải Lục Phong tiếp quản dự án này, họ đã đầu tư gần 1,5 tỷ nhân dân tệ, và dự kiến sẽ tiếp tục đầu tư thêm khoảng 2 tỷ nhân dân tệ nữa.

Hiện tại, 2000 mẫu của khu vực nuôi trồng trong nhà và các cơ sở hạ tầng phụ trợ đã hoàn thành việc xây dựng.

Mặc dù đây là một cơ sở nuôi trồng trên đất liền, nhưng nó chỉ cách bờ biển khoảng hơn 200 mét, ngay sát với đường bờ biển. Trên bãi biển còn được xây dựng một trạm bơm nước lớn, chuyên dùng để bơm nước từ biển vào cơ sở nuôi trồng.

Giang Miào Trước đó, ông cũng yêu cầu bộ phận thủy sản tiếp quản một ngọn đồi nhỏ bên cạnh cơ sở nuôi trồng này, sau đó sử dụng các hang động tự nhiên trên ngọn đồi để xây dựng một nhà kho đông lạnh ngầm.

Ngọn đồi này có diện tích khoảng 470 mẫu. Khi ông đến kiểm tra trước đây, ông đã ngay lập tức chọn ngọn đồi này, bởi vì không chỉ có các hang động có thể được sử dụng, mà cấu trúc đá trên ngọn đồi cũng khá ổn định, ít xảy ra các sự cố địa chất như sạt lở.

“Ông chủ, chúng tôi đã mở rộng và làm sâu hơn các hang động này, đồng thời cũng tăng cường độ bền cho chúng. Hiện tại, bên trong đã được chia thành 6 căn phòng.” Giám đốc quản lý cơ sở nuôi trồng, ông Lý Hướng Triết, đang giới thiệu về hoạt động của nhà kho đông lạnh Blackstone Mountain cho Giang Miào.

Theo bản thiết kế, 6 căn phòng này được sắp xếp thành hai hàng và được kết nối với nhau.

Bên trong được trang bị các thiết bị làm lạnh và hệ thống tuần hoàn nước lạnh; trong đó, 4 căn phòng được sử dụng để đông lạnh thông thường, còn 2 căn phòng khác dùng để đông lạnh đặc biệt.

Các đường ống của hệ thống tuần hoàn nước lạnh được chôn dưới lòng đất và kết nối với khu vực nuôi trồng trong nhà rộng hàng nghìn mẫu.

Năng lượng từ các tấm pin mặt trời được sử dụng để làm lạnh nước trong nhà kho vào ban ngày, thậm chí còn trực tiếp tạo ra băng. Nhờ vào lớp đá dày trên ngọn đồi, hiệu quả cách nhiệt tương tự như một hầm đông băng được đảm bảo.

Nhà kho đông lạnh khổng lồ này có

Sau khi xem xét nhà kho lạnh, Giang Miào tiếp tục đến thăm trang trại nuôi cá hồi. Hiện tại, trong số các trang trại thuộc sở hữu của công ty Hải Lục Phong, có ba trang trại đang nuôi cá hồi.

Trong đó, trang trại ở núi Gà Lồng gần trụ sở chính có quy mô 500 mẫu; trang trại ở bán đảo Che Lang có diện tích 2000 mẫu; còn trang trại ở vịnh Kiệt Thạch của Lục Phong có diện tích 1500 mẫu, tổng cộng là 4000 mẫu.

Các trang trại này có khả năng chứa 26,64 triệu mét khối nước, đủ để nuôi hàng억 con cá hồi.

Tuy nhiên, lúc này Giang Miào không quá quan tâm đến việc nuôi cá hồi, chỉ xem qua trong nửa giờ rồi bỏ qua và chuyển sang xem các loại sản phẩm nuôi trồng mới được thêm vào.

Trong trang trại nuôi trong nhà có diện tích 500 mẫu, hiện đang nuôi 5 loại hải sản khác nhau. Trong các ao nuôi sâu 10 mét, đáy ao được phủ một lớp bùn nhân tạo dày hơn một mét. Li Hướng Triết đã yêu cầu công nhân múc lớp bùn này lên.

Rất nhanh sau đó, có những thứ được múc lên cùng với lớp bùn. Giang Miào cúi xuống và thấy trong túi lưới có vài con ốc; đó chính là loại ốc Đại Hưởng nổi tiếng ở khu vực Chao Shan.

Lúc này, những con ốc này còn rất nhỏ, chỉ bằng kích thước ngón tay. Để chúng lớn đến mức có thể được bán ra thị trường với trọng lượng từ 1 đến 2 kg, chúng cần khoảng 18 tháng nữa. Và chỉ với phương pháp nuôi trồng khoa học nhất, những con ốc này mới có thể đạt được kích thước mong muốn trong vòng 18 tháng.

Giang Miào đặt lại những con ốc đó vào ao nuôi, rồi vừa rửa tay bên bờ ao vừa hỏi: “Tình hình nuôi trồng kết hợp như thế nào?”

“Hiện tại vẫn ổn. Các dự án nuôi trồng thử nghiệm như ốc Đại Hưởng kết hợp với tôm Bích Phi hay ốc Đông Phong kết hợp với tôm Bích Phi đều không gặp phải vấn đề gì; có lẽ điều này liên quan đến việc chúng đều sinh sống ở vùng biển Nam Hải.”

Phương pháp nuôi trồng kết hợp này nhằm tận dụng tối đa diện tích môi trường nuôi trồng. Các loài động vật có vỏ chủ yếu sống ở lớp bùn đáy biển, trong khi tôm Bích Phi và tôm Hùng Vĩ lại sống ở các tầng nước nông hơn.

Để tránh tình trạng tôm Bích Phi và tôm Hùng Vĩ săn bắn các loài ốc và tôm khác, công ty Hải Lục Phong đã lót một lớp lưới thép không gỉ dày khoảng nửa mét phía trên lớp bùn đáy ao.

Vì là lưới, nên chắc chắn sẽ có khe hở. Do đó, cho dù là tôm Bích Phi, tôm Hùng Vĩ, ốc Đại Hưởng hay các loài tôm khác, chúng đều phải đạt đến kích thước ít nhất bằng ngón tay mới được nuôi chung trong

“Hãy đi xem các trang trại nuôi tôm hùm hoàng đế và tôm ngọt Bắc Cực nhé.”

“Được thôi.”

Nhóm người tiến về phía những hàng trang trại nuôi trồng gần nhất với kho lạnh dưới lòng đất.

Nhiệt độ nước trong các trang trại này luôn được kiểm soát ở mức 2 đến 5 độ C – đây chính là nhiệt độ lý tưởng nhất để tôm ngọt Bắc Cực và tôm hùm hoàng đế phát triển.

Các nhân viên làm việc tại đây đều mặc những bộ áo khoác lông vũ dày; Li Hướng Triết cũng đã chuẩn bị cho Giang Miào và những người khác vài bộ áo khoác lông vũ đặc biệt giúp giữ ấm, với thiết kế liền thân.

Ngay khi bước vào trang trại nuôi trồng, dù bên ngoài đang là mùa đông, nhiệt độ bên trong vẫn rất lạnh giá.

Thở ra một hơi khói trắng, Giang Miào nhìn xuống đáy ao, nơi những con tôm ngọt Bắc Cực đang sống. Vì loài tôm này cần sống ở vùng nước sâu, nên ao nuôi có độ sâu 20 mét, trong đó 12 mét nằm dưới lòng đất, còn 8 mét còn lại được tạo thành bằng cách nâng cao đê ao.

Vì vậy, nhân viên muốn quan sát những con tôm này phải sử dụng camera dưới nước. Thực ra, độ sâu này không phù hợp với môi trường sống tự nhiên của tôm ngọt Bắc Cực – chúng thường sinh sống ở độ sâu từ 100 đến 600 mét.

Nhưng Giang Miào hiểu rằng sinh vật không phải là bất biến; việc tôm ngọt Bắc Cực sống ở độ sâu 100 đến 600 mét chỉ là do thói quen hình thành qua thời gian, và thói quen này hoàn toàn có thể thay đổi.

Chỉ cần điều kiện ánh sáng và nhiệt độ nước phù hợp, áp suất nước ở độ sâu 100 mét cũng hoàn toàn có thể được điều chỉnh.

Đặc biệt là vì tôm ngọt Bắc Cực vốn sống ở độ sâu từ 100 đến 600 mét, nên sự chênh lệch áp suất giữa các tầng nước chỉ khoảng 5 đến 6 lần; điều này chứng tỏ rằng cơ thể chúng có khả năng tự điều chỉnh áp suất nước.

Giang Miào đã thông qua việc điều chỉnh nồng độ muối khoáng trong dịch cơ thể của chúng, kết hợp với các chất dinh dưỡng khác, để đảm bảo rằng những con tôm non này có thể sống được ở độ sâu từ 15 đến 20 mét.

“Ao này đã được nuôi trồng bao lâu rồi?”

“Ông chủ, đây là lô tôm ngọt Bắc Cực đầu tiên được thả vào ao; đã trôi qua 12 ngày rồi.” Người đứng đầu nhóm nuôi trồng trả lời một cách e dè.

“Khá tốt.” Giang Miào nhận thấy rằng những con tôm này được chăm sóc rất tốt.

Cuốn sách này mới đây đã được cập nhật tại ##Lục@@Cửu@@Thư@@Ba!! Cập nhật mới nhất!

So với môi trường tự nhiên, nơi mà chu kỳ phát triển cần ít nhất hai đến ba năm mới đạt được tiêu chuẩn xuất khẩu, thì tại các trang trại nuôi trồng nhân tạo này, những con tôm ngọt Bắc Cực chỉ cần khoảng nửa năm là đã có thể đạt trọng lượng từ 14 đến 18 gram, đủ điều kiện để bán ra thị trường.

Giang Miào quay sang xem hình ảnh từ camera dưới nước khác.

Trong hình ảnh, có một đàn tôm hùm non đang sinh sống trên những tấm lưới thép không gỉ, ở độ sâu hơn 10 mét.

Lúc này, chúng vẫn còn rất nhỏ, chỉ lớn hơn một chút so với ngón tay.

Thông thường, trong môi trường tự nhiên, tôm hùm cần từ 8 đến 12 năm mới đạt trọng lượng từ 3 đến 4 kilogram, đủ điều kiện để bán ra thị trường.

Nhưng với phương pháp nuôi trồng nhân tạo, điều này không cần thiết. Tại trang trại này, chúng được sống trong môi trường có nhiệt độ nước, ánh sáng và độ mặn phù hợp nhất; không cần phải di chuyển liên tục, và được cho ăn loại thức ăn phù hợp nhất. Chỉ cần khoảng 18 tháng, chúng đã có thể đạt trọng lượng từ 2 đến 2,5 kilogram, và sau 28 tháng thì đạt 3 đến 3,3 kilogram.

Trong suốt giai đoạn này, vào tháng thứ 12, chúng sẽ bắt đầu lột xác lần đầu tiên; đến tháng thứ 24, chúng sẽ lột xác lần thứ hai, đồng thời cũng bước vào giai đoạn trưởng thành về mặt sinh sản. Nếu tiếp tục nuôi chúng thêm 4 tháng nữa, và điều chỉnh thức ăn cùng nhiệt độ nước để ngăn chặn quá trình sinh sản của chúng, trọng lượng của chúng sẽ tăng lên nhanh chóng, đủ điều kiện để bán ra thị trường.

Nếu không ngăn chặn quá trình sinh sản này, chỉ cần tiếp tục nuôi chúng thêm 8 tháng nữa, chúng sẽ bắt đầu đẻ trứng.

Thực ra, việc nuôi tôm hùm chỉ là một phụ phẩm trong quá trình nuôi trồng tôm ngọt Bắc Cực mà thôi.

Vì tôm ngọt Bắc Cực không thể thích nghi với độ sâu hơn 15 mét, nên những ao nuôi có nhiệt độ thấp này được sử dụng để nuôi tôm hùm, nhằm tránh lãng phí không gian. Dù sao thì so với tôm ngọt Bắc Cực – loài chỉ có thể thu hoạch mỗi nửa năm một lần – thì chu kỳ phát triển của tôm hùm vẫn tương đối chậm hơn, cần đến 28 tháng mới đạt tiêu chuẩn xuất khẩu.

Theo tình hình nuôi trồng hiện tại, mỗi mẫu ao nuôi có nhiệt độ thấp có thể cho ra sản lượng khoảng 3000 kilogram tôm ngọt Bắc Cực mỗi lần, tổng cộng là 6000 kilogram mỗi năm. Giá nhập khẩu tôm ngọt Bắc Cực hiện nay là khoảng 30 đến 50 nhân dân tệ mỗi kilogram; nếu tính theo giá 30 nhân dân tệ mỗi kilogram, thì tổng giá trị sản xuất mỗi mẫu ao mỗi năm là 180.000 nhân dân tệ.

Để tránh tình trạng các con cua hoàng đế giết lẫn nhau, chỉ có thể sử dụng lưới thép không gỉ hai tầng để chia ra thành hai khu vực riêng biệt; điều này mới giúp tăng gấp đôi mật độ nuôi trồng. Hơn nữa, cứ sau nửa năm lại phải thay đổi bể nuôi để điều chỉnh mật độ chúng trong nước.

Đối với cua hoàng đế ở giai đoạn một tuổi, mật độ nuôi trồng phải đảm bảo rằng mỗi mét vuông có đủ không gian cho chúng hoạt động. Trong một mẫu ruộng nuôi, một tầng chỉ có thể nuôi tối đa 222 con cua hoàng đế; nếu nuôi hai tầng thì tối đa là 444 con.

Khi thu hoạch, mỗi con cua hoàng đế có trọng lượng khoảng hơn 3 kg, nên sản lượng trên một mẫu ruộng đạt khoảng 1332 kg.

Ngay cả khi trong những năm gần đây, giá cua hoàng đế vẫn ổn định ở mức 400 nhân dân tệ mỗi kilogram, thì tổng giá trị sản xuất trên một mẫu ruộng cũng đạt khoảng 530.000 nhân dân tệ, tương đương với 220.000 nhân dân tệ mỗi năm – con số cao hơn nhiều so với giá trị của tôm ngọt Bắc Cực.

Tuy nhiên, mức giá 400 nhân dân tệ mỗi kilogram đối với cua hoàng đế rõ ràng là quá cao so với giá trị thực tế của chúng. Thêm vào đó, những tác động của thời tiết khắc nghiệt trong những năm gần đây đã khiến sản lượng cua hoàng đế giảm sút đáng kể, từ đó tạo nên mức giá cao như hiện nay.

Dĩ nhiên, đối với công ty Hải Lục Phong, việc này cũng chỉ là cách tận dụng những nguồn nguyên liệu có sẵn mà thôi. Việc nuôi cua hoàng đế cũng như tôm ngọt Bắc Cực đều nhằm mục đích tăng hiệu quả sử dụng các bể nuôi. Ngay cả khi giá cua hoàng đế giảm xuống còn 100 nhân dân tệ mỗi kilogram, công ty Hải Lục Phong vẫn có lợi nhuận.

Việc xây dựng những trang trại nuôi trồng có quy mô lớn, áp dụng tiêu chuẩn cao và sử dụng nước lạnh để nuôi trồng, Giang Miào tự nhiên phải lựa chọn những loài hải sản có giá trị cao để nuôi trồng; những loài cá hay tôm thông thường thì hoàn toàn không thể thu hồi được chi phí đầu tư.

1/1 0%