lore

Chương 164

9,796 Nhấn vào nội dung để bình luận hoặc báo lỗi.

Năm 164, tháng Sáu, Ngụy Thiệu lên ngôi tại Lạc Dương, đặt quốc hiệu là Yến và đặt niên hiệu là Thái Hòa.

Mặc dù thiên hạ đã được thống nhất, nhưng vùng Trung Nguyên sau nhiều năm chiến loạn đã trở nên hoang vu, dân chúng sống trong cảnh khó khăn. Khi Đại Yến mới thành lập, mọi việc đều cần được phục hồi.

Hoàng đế tiếp tục áp dụng chính sách khoan dung mà ông đã sử dụng khi cai trị miền Bắc, bãi bỏ những chính sách hà khắc của triều đại trước, giảm bớt thuế và lao dịch, để người dân có thể yên tâm sinh sản và phục hồi. Ông cũng khuyến khích nông nghiệp và canh tác, xây dựng các công trình thủy lợi, đặc biệt chú trọng đến việc kiểm soát dòng sông Hoàng Hà. Đối với tình trạng lòng sông ở đoạn trung và hạ lưu bị bồi lấp nghiêm trọng, khiến lòng sông cao hơn nhà cửa hai bên bờ như một con sông “treo lơ lửng” trên không, hoàng đế đã triệu tập những người có kiến thức về việc điều tiết dòng sông, và sau đó còn mạo danh đi đến núi Dương Sơn.

Thầy của Thủ tướng Công Tôn Dương – ông Bạch Thạch – hiện đang sống ẩn dật tại ngọn núi này. Năm ngoái, Kiều Bình đã đến đây để chữa bệnh mắt; ông Bạch Thạch với tấm lòng nhân từ và tài năng y khoa đã chữa trị cho anh ta. Hiện nay, Kiều Bình cũng đang sống trên núi, xây dựng một túp lều gần nhà ông Bạch Thạch, vừa sống ẩn dật vừa chữa bệnh cho mọi người.

Hoàng đế và hoàng hậu cùng nhau đến núi, không chỉ để thăm Kiều Bình mà còn muốn xin lời khuyên từ ông Bạch Thạch về cách kiểm soát dòng sông. Lý do hoàng đế muốn hỏi ông Bạch Thạch là bởi vì lần đầu tiên họ gặp nhau tại Huy Nam, đúng vào lúc đê sông gặp nguy cơ đổ vỡ; ông Bạch Thạch đã kịp thời đưa ra giải pháp, giúp sửa chữa đê và giải quyết nguy cơ đó.

Dù sự việc đã xảy ra nhiều năm trước, nhưng nó vẫn in sâu trong trí nhớ của hoàng đế. Vì vậy, hôm nay ông quyết định đến thăm ông Bạch Thạch.

Ông Bạch Thạch là người kế thừa trường phái Mạc gia, đã đi du lịch khắp nơi trong suốt nửa đời mình. Không chỉ am hiểu về y học, ông còn có kiến thức sâu rộng về kỹ thuật xây dựng và nhận thức rõ ràng rằng việc quản lý nguồn nước có liên quan mật thiết đến cuộc sống của người dân, đặc biệt là sông Hoàng Hà. Do đường sông ở đoạn trung và hạ lưu có nhiều khúc quanh và bị xói mòn nghiêm trọng, nên từ xa xưa đã nhiều lần xảy ra tình trạng đê vỡ và dòng sông thay đổi hướng chảy, gây ra nhiều hậu quả nghiêm trọng.

Xu Mạn xuất thân từ một gia đình nghèo khó, chỉ là một quan nhỏ phụ trách công tác quản lý sông ngòi tại Cao Dương; ông đã giữ chức vụ này suốt nửa đời mình. Mặc dù có tài năng và lòng nhân ái, ông đã nhiều lần đề xuất các kế hoạch kiểm soát lũ lụt lên triều đình, nhưng không được xem xét. Xu Mạn đã cảm thấy tuyệt vọng, nhưng sau khi triều đình thay đổi, vua mới lên ngôi không lâu, không hiểu bằng cách nào mà nhà vua biết đến ông và đã ban chiếu triệu tập ông về triều để giữ chức vụ.

Khi vua triệu tập một người dân thường, họ được gọi là “Chinh Quân”, và đối với người được triệu tập, đây là một vinh dự lớn lao.

Với tâm trạng vui mừng nhưng lo lắng, Xu Mạn đã vội vàng đến Lạc Dương để gặp vua tại Nam Cung. Sau cuộc trò chuyện giữa hai người, ngày hôm sau, hoàng đế đã ban chiếu thăng chức ông thành Đại Sĩ Nông, phụ trách công tác quản lý sông Hoài Hà, và ông lập tức nhận chức.

Cuộc đời đầy ước mơ của Xu Mạn cuối cùng cũng được thực hiện. Ông quỳ xuống cảm tạ và từ đó, khi đến địa phương, ông đã phát huy hết tài năng của mình, tập trung vào việc kiểm soát lũ lụt. Sau nhiều năm nỗ lực, ông đã loại bỏ những nguy cơ lũ lụt ở đoạn trung và hạ lưu sông Hoàng Hà, đồng thời việc khai thác nước từ các đê đập đã giúp tưới tiêu cho hàng chục huyện ở đông tỉnh Hứa và tây nam tỉnh Lỗ, giúp hàng triệu mẫu ruộng đất trở nên màu mỡ. Nhờ đó, người dân sống trong hòa bình và no đủ. Xu Mạn không chỉ được người dân địa phương kính trọng với danh hiệu “Tướng Xu” mà còn nhiều lần nhận được sự khen ngợi từ triều đình.

Trong triều đình lúc bấy giờ, có những vị quan tài ba như Thủ tướng Công Tôn Dương, Đại Viện sĩ Vệ Quyền, Thượng thư Trúc Tăng… về mặt chính trị; còn về mặt quân sự, có Đại Tướng Lý Điển giữ chức vụ ở U Châu, Tướng Vệ Quyền giữ chức vụ ở Tây Lương, Hiệu úy Kiều Từ giữ chức vụ ở Bình Châu… Vị tướng mắt xanh Bi Trì, vì có công lao lớn trong việc dập tắt loạn lạc ở miền nam, đã được phong làm Hầu tước Cửu Giang và giữ chức vụ ở biên giới phía nam.

Hoàng đế không lấy phi tần, mà chọn bà Kiều làm hoàng hậu, cùng nhau sống hạnh phúc suốt đời.

Mọi người đều biết rằng hoàng hậu Kiều không chỉ xinh đẹp mà còn là người vợ đảm đang, hỗ trợ hoàng đế rất nhiều. Khi hoàng đế đi chinh phục miền nam và gặp phải cuộc tấn công bất ngờ của người Hung Nô tại Dư Dương, tình hình trở nên nguy cấp, chính hoàng hậu Kiều, không sợ hãi cái chết, đã lên tường thành khích lệ binh sĩ chiến đấu anh dũng, và cuối cùng đã bảo vệ được

Bởi vì điều này có nghĩa là từ nay trở đi, họ không cần phải chờ đợi một cách vất vả để có được cơ hội được các quan chức địa phương giới thiệu, nhờ đó mà có thể đạt được một chức vụ nào đó. Biết bao người tài năng thực sự, suốt cả cuộc đời mình, cũng không chắc đã có thể chờ đợi được cơ hội được triệu tập hoặc được giới thiệu như mình mong muốn. Nhưng giờ đây, với phương thức tuyển chọn nhân tài này, dù không thể nói chắc rằng sẽ thành công trong ước mơ, ít ra thì cũng đã tiến gần hơn nhiều đến việc biến ước mơ đó thành hiện thực.

Ngay sau khi sắc lệnh được ban hành, triều đình đã tổ chức kỳ thi đầu tiên. Theo thông tin, tổng số những người tự nguyện tham gia thi từ khắp nơi lên tới hơn mười nghìn người. Sau nhiều vòng tuyển chọn, cuối cùng, tại kỳ thi ở Điện Thiên Thu, Đại Yến đã sản sinh ra nhóm người đầu tiên trong lịch sử đỗ cử nhân.

Những người này đều rất tài năng và có tư duy sáng tạo; sau khi được bổ nhiệm vào các chức vụ, hầu hết họ đều hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ của mình trong thời gian giữ chức. Một số trong số họ sau này còn trở thành những quan lại quan trọng trong triều đình.

Vài năm sau, hệ thống khoa cử đã hoàn toàn thay thế hệ thống tuyển chọn nhân tài truyền thống đã được áp dụng trong hàng nghìn năm, trở thành con đường duy nhất để triều đình tuyển chọn nhân tài.

Người được cho là người đầu tiên đề xuất hệ thống khoa cử và thuyết phục hoàng đế cùng các quan lại chấp nhận nó, chính là Kiều hậu.

Do đó, trong một thời gian dài sau đó, Kiều hậu đã trở thành một nhân vật huyền thoại trong mắt các nhà khoa bác khắp nơi. Rất nhiều người đã tranh nhau viết thơ ca ngợi bà, và nhiều tác phẩm của họ đã được lan truyền rộng rãi. Việc có tên trên bảng vàng và được Kiều hậu mời dự tiệc tại cung điện, thậm chí được bà ban thưởng rượu, đã trở thành ước mơ của rất nhiều người.

Tiếng tăm tốt đẹp của Kiều hậu đã được mọi người biết đến trong và ngoài thành phố Lạc Dương. Tuy nhiên, theo thời gian, không ai biết từ đâu mà tin đồn bắt đầu lan truyền, nhưng điều mà mọi người trong thành phố Lạc Dương thích bàn tán nhất không phải là về lòng hiếu thảo của Kiều hậu, mà là về việc hoàng đế sợ vợ.

Người ta nói rằng, trước khi lên ngôi, khi còn ở Yên Châu và phục vụ cho Yến Hầu, hoàng đế đã có tiếng là người sợ vợ. Vì bị Kiều hậu cấm, ông không dám lấy thêm phi tần nào khác, nên hậu cung chỉ có mình hoàng hậu, và cũng không có hoàng tử. Dù vậy, hoàng đế vẫn không muốn lấy thêm phi tần nào khác. Có lẽ, không chỉ là sợ vợ, mà sợ đến mức rất nghiêm trọng.

Nếu những tin đồn này là sự thật, thì vua đầu tiên của Đại Yến không chỉ là người giỏ

Những vị tướng lĩnh cũ từng theo hoàng đế đi chinh phục thiên hạ vào thời đó, đối với chuyện giữa hoàng đế và hoàng hậu, thực ra cũng có hai phe khác nhau. Như Công Tôn Dương, ông cho rằng việc hoàng đế không lập hậu cung là do ông ta yêu mến hoàng hậu nhiều hơn; còn Vệ Quyền thì âm thầm nghĩ rằng hoàng đế thực sự sợ vợ, ngày xưa thì còn qua được, nhưng bây giờ ngay cả dân gian cũng biết chuyện này, quả là mất đi phẩm giá của một vị hoàng đế. Tuy nhiên, mặc dù suy nghĩ của họ không giống nhau, nhưng tất cả đều hiểu rõ những bí mật ẩn sau đó, và không ai ngốc đến mức đi nói chuyện này trước mặt hoàng đế để tự rước họa vào thân.

Có vài vị tướng cũ của triều đại trước, không biết rằng “không được chạm vào mông hổ”, lại cùng với mong muốn gửi con gái mình vào hậu cung, đã cùng nhau soạn một bản kiến nghị dài dòng, trong đó dẫn chứng từ xưa đến nay, dựa trên các câu như “Hoàng đế lấy mười hai người vợ, tượng trưng cho mười hai tháng; ba loại phụ nữ và chín vị phi tần” cùng với lý do rằng cho đến nay chỉ có một công chúa dưới thân hoàng đế, để xin hoàng đế lập phi tần, làm đầy đủ hậu cung.

Ngày hôm sau, bản kiến nghị đó bị hoàn trả lại, và trên đó chỉ có một dòng chữ viết tay của hoàng đế: “Các ngươi đang nguyền rủa ta sao? Ta không thể sinh ra con trai à?”

Các đại thần hoảng sợ, vội vàng soạn thảo bản tường trình xin lỗi.

Từ đó về sau, không ai trong triều dám nói đến chuyện hậu cung nữa.

Theo những tin đồn không chính thức, sau này hoàng đế còn dùng chuyện này để nịnh hót và khoe khoang trước mặt Kiều hậu; khi Kiều hậu biết được, bà chỉ cười mà thôi.

Hoàng đế và hoàng hậu đều rất yêu quý thành phố Tín Đô, vì đối với họ, nơi này mang ý nghĩa đặc biệt. Hoàng đế đã ra lệnh sửa sang điện Tán Đài ở Tín Đô và đổi tên thành “Điện Gia Tín”, coi đó là nơi nghỉ ngơi khi đi tuần du các vùng đất thuộc chín châu. Sau đó, mỗi khi hoàng đế đi tuần du, hoàng hậu luôn cùng ông ghé thăm Tín Đô.

Từ ngày đầu tiên thành lập, Đại Yên đã bước vào một kỷ nguyên thịnh vượng và hòa bình. Các sử sách chính thống sau này cũng không ngần ngại dùng những lời khen ngợi như “vua minh quân hiền hậu” để mô tả đôi vợ chồng sáng lập đế quốc Đại Yên.

Đối với người dân bình thường, vị hoàng đế sáng lập trẻ trung và oai phong, lại may mắn được gặp Kiều hậu, những người đã từng được gặp bà đều kể rằng bà rất xinh đẹp, đẹp đến nỗi như tiên nữ trên trời. Một cặp đôi như vậy, vốn đã mang tính chất huyền thoại; cộng thêm với tin đồn “hoàng đế sợ vợ”, cuộc

1/1 0%