lore

Chương 362

11,500 Nhấn vào nội dung để bình luận hoặc báo lỗi.

Làng của những kẻ trộm cắp

Có vẻ như anh ta đã hiểu ra điều gì đó,

Rồi cười lớn ba tiếng, và sau đó chết đi.

Làng Hà Đường, con sông phía trước làng tràn ngập hoa sen.

Năm đó, nước sông rút đi, ao hồ khô cạn; đã lâu không có mưa, nhưng những chiếc lá sen xanh tươi vẫn mọc um tùm, cao hơn một người, dày đặc như một khu rừng, tạo thành bóng mát dưới ánh nắng xanh; lớp bùn đáy đã biến thành đất cứng; khi đi bộ giữa những bụi sen, hương thơm ngát ngào của chúng khiến người ta cảm thấy như đang trong mơ.

Đất trên bãi sông nứt nẻ, nhiều hố sâu chứa đầy những con nòng nọc; có lẽ chỉ vài giờ nữa, chúng sẽ bị nắng chết.

Lúc đó, Thích Diên Tâm vẫn còn là một thiếu niên; cậu bé cùng cha mình đi đào sen. Cậu nhặt những con nòng nọc lên và ném chúng xuống sông.

Cha cậu hỏi: “Con đang làm gì vậy?”

Thích Diên Tâm đáp: “Con đang cứu những con nòng nọc.”

Cha cậu nói: “Trên bờ sông có quá nhiều nòng nọc như vậy, con có thể cứu hết được sao?”

Thích Diên Tâm trả lời: “Dù chỉ cứu được một con thôi, cũng là một con.”

Mỗi bông sen trên thế gian này đều nở ở nơi nó thuộc về; mỗi người trên thế gian này đều xuất hiện ở nơi họ cần phải có mặt.

Cha cậu đào sen xong, rửa sạch chúng trong ao, rồi chèo thuyền đưa cậu đến chợ thị trấn để bán.

Cậu ngồi xếp bàn chân, canh gác quầy hàng, nhìn người qua kẻ lại, nhìn mây trôi trên bầu trời… Tất cả những điều đó đều mang ý nghĩa sâu sắc; chiếc thuyền dùng để đến đây được buộc dưới cây cầu; sau khi bán hết sen, gió mát thổi qua khoảng trống còn lại của thân sen; những mầm sen còn lại sẽ nở hoa vào một ngày nào đó.

Chỉ khi từ bỏ thuyền mới có thể lên bờ; chỉ khi từ bỏ sen mới có thể sinh ra những bông sen mới.

Những duyên phận chưa tan biến, những tình cảm chưa đứt đoạn… Một hạt sen trở thành nguồn gốc để tìm kiếm lại nhau.

Dù ở trong bùn lầy hay trong thế giới u ám này, con người cũng nên sống như những bông sen, không bị ô nhiễm bởi bất cứ điều gì.

Cha cậu nói với cậu: “Dù nghèo khó đến đâu, cũng đừng trở thành kẻ trộm cắp.”

Trong chợ, những kẻ trộm cắp đều là người dân của làng Hà Đường; Thích Diên Tâm thấy ai là kẻ trộm thì gọi họ là “chú”. Nhưng những kẻ đó lại e ngại lắc đầu, giả vờ không nhận ra, trong khi mắt họ luôn dõi theo túi xách của những người già.

Họ trộm ví tiền, trộm thịt, trộm rau củ, trộm xe đạp, thậm chí cả những chiếc máy bộ đàm được đeo bên hông.

Đó là năm 1999; những

“Dòng sông chảy về phía đông, những vì sao trên bầu trời xếp thành chòm Bắc Đẩu… Khi thấy điều bất công, hãy la lên; khi đến lúc cần hành động, hãy không ngần ngại…”

“Hãy cùng nhau sống trong thế gian này một cách tự do và phóng khoáng, cưỡi ngựa phi nhanh, cùng nhau tận hưởng vẻ đẹp của cuộc sống…”

Thời gian trôi qua như dòng nước; khu chợ nông sản ngày xưa giờ đã được mở rộng thành con sông, và bây giờ, hàng ngàn chiếc thuyền đã qua lại trên dòng nước ấy.

Shi Yanchen nói với cha mình: “Con không muốn bán sen nữa.”

Cha anh hỏi: “Con muốn làm gì?”

Shi Yanchen đáp: “Con muốn ‘lấy tiền’ giống như họ, bằng cách trộm cắp.”

Người dân trong làng rất mạnh mẽ; họ cười nhạo sự nghèo khó nhưng không chê bai việc trộm cắp. Người dân trong làng gọi hành vi trộm cắp là “lấy tiền”. Ở các làng lân cận, khi các gia đình tìm con rể, họ thường hỏi xem nhà người đó có bao nhiêu người “lấy tiền”; nếu câu trả lời là có nhiều người như vậy, thì gia đình đó sẽ được coi là giàu có.

Nhà trưởng làng nuôi gà và bán trứng; dù họ làm việc rất vất vả, nhưng vẫn không kiếm được nhiều tiền.

Chỉ vài năm sau, người hàng xóm đã tu sửa lại ngôi nhà của mình; nhà họ có sáu căn phòng, bức tường sân cao hơn ba mét, cổng sắt màu đỏ rực rỡ, trông rất oai phong. Tất cả những điều đó đều nhờ vào việc hai đứa con của họ trộm cắp ở thành phố; mặc dù tiền bạc đó có nguồn gốc không rõ ràng, nhưng vẫn khiến người ta ghen tị.

Trưởng làng nói với con trai mình: “Hải Phi, con hãy học một nghề gì đó, rồi cũng đi ‘lấy tiền’ đi.”

Con trai trưởng làng chính là kẻ trộm đó.

Năm đó, Shi Yanchen 20 tuổi, Thủy Yến Tử 14 tuổi, còn kẻ trộm đó mới chỉ 6 tuổi. Ba người cùng quyết định theo học một người thầy – chính là ông trùm trộm nổi tiếng trong làng.

Ông trùm trộm từng học đại học, chuyên ngành cơ khí chế tạo; trong thời kỳ Cách mạng Văn hóa, ông bị coi là người mắc bệnh tâm thần, tình trạng sức khỏe thay đổi thất thường; vì vậy ông chưa bao giờ kết hôn và sống một mình, lang thang khắp nơi để trộm cắp, và chưa bao giờ thất bại. Khi già đi, ông quyết định ngừng làm ăn và trở về làng để sống những ngày cuối đời yên bình.

Sân nhà ông trùm trộm không có tường hay cửa; trước nhà có một cái cây nho, một con mèo nằm dài bên gốc cây, và trên giàn nho treo vài quả bí nhỏ, vẫn còn xanh non, trông rất đẹp mắt. Không ai dám đến nhà ông trùm trộm để trộm cắp; nhiều người đã từng chứng ki

“Thủy Yến nói: ‘Tôi không kém gì đàn ông đâu.’”

“Kẻ trộm vương nói: ‘Vậy thì tôi sẽ thử xem.’”

Kẻ trộm vương đứng dậy khỏi ghế đung đưa, nhấc con mèo đang nằm dưới gốc nho lên, tháo chiếc chuông treo cổ con mèo ra rồi buộc nó vào cành nho.

Kẻ trộm vương nói: “Nếu em có thể tháo chiếc chuông xuống mà không làm cho nó phát ra tiếng động, thì em sẽ được chấp nhận.”

Điều này thật sự rất khó. Thủy Yến mới chỉ mười bốn tuổi, thân hình cũng không cao lắm; dù đứng trên đầu ngón chân thì cũng không thể với tay tới chiếc chuông đang treo trên cành nho. Hơn nữa, kẻ trộm vương đã buộc chiếc chuông bằng loại nút gỗ rất dễ buộc nhưng lại rất khó tháo. Những người công nhân rừng thường sử dụng loại nút này để kéo các khối gỗ; việc muốn tháo nó mà không làm cho chuông phát ra tiếng động quả thực là điều không hề dễ dàng.

Kẻ trộm vương lại nằm xuống ghế đung đưa và nói: “Em có mười phút thời gian.”

Thủy Yến suy nghĩ mãi nhưng vẫn không tìm ra cách giải quyết.

Shi Yán Tâm thì thầm gợi ý: “Này, bên cạnh tường có một cái ghế đấy…”

Ý định ban đầu của kẻ trộm vương là muốn Thủy Yến trèo lên giàn nho và thật nhẹ nhàng tháo chiếc chuông xuống. Nhưng sau khi nhận được gợi ý từ Shi Yán Tâm, Thủy Yến đã mang một cái ghế ba chân từ bên cạnh tường đến. Dù cái ghế chỉ có ba chân, cô bé vẫn cẩn thận đặt mình lên đó, dùng ngón tay nắm chặt phần chuông để không làm cho nó phát ra tiếng động, trong khi tay kia thì gãy một cành nho và thành công trong việc tháo chiếc chuông xuống.

Kẻ trộm vương có vẻ thất vọng và nói: “Đó là cách lừa dối… Dù sao thì em cũng qua được bài kiểm tra này.”

Tiếp theo, kẻ trộm vương tiếp tục thử thách “Áo choàng Kẻ Trộm”. Có lẽ vì muốn ưu ái con trai của trưởng làng, nên bài kiểm tra này khá đơn giản. Chiếc ghế ba chân đó khiến “Áo choàng Kẻ Trộm” hoảng sợ; kẻ trộm vương yêu cầu cậu ta đi đến khu rừng phía sau làng để chặt một đoạn cây liễu phù hợp để làm chân ghế.

“Áo choàng Kẻ Trộm” run rẩy và nghĩ đến việc bỏ cuộc.

Khu rừng đó là một nơi có nhiều mộ phần, cỏ dại um tùm, và cũng có một số cây liễu; hầu hết các cây đó đều có những khối u kỳ lạ trên thân. Ngay cả vào ban ngày, người lớn bước vào khu rừng đó cũng cảm thấy sợ hãi; huống chi là vào lúc này, khi trời đã tối và những câu chuyện về ma quỷ ở làng càng khiến việc một đứa trẻ sáu tuổi phải đến đó trở nên đáng sợ hơn nữa.

Kẻ trộm vương ném cho cậu ta một con dao chặt c

Thủy Yến nói: “Hải Phi, mày dũng cảm thật đấy, dám vào cái rừng kia… Trong rừng toàn là mộ phần mà.”

Kẻ trộm mặc áo choàng đáp: “Chị Yến ơi, tôi chẳng hề sợ chút nào đâu.”

Thích Duyên Tâm hỏi: “Mày đã gặp ma chưa?”

Kẻ trộm mặc áo choàng nói: “Anh Duyên, không gặp ma đâu… Tôi chỉ thấy xương người màu trắng ở đó thôi.”

Tên trùm trộm cười lạnh một tiếng, không nói gì thêm; có vẻ như hắn đã hiểu hết suy nghĩ của anh ta.

Tên trùm trộm hỏi Thích Duyên Tâm: “Cha mày bán sen, là người chân thật… Làm sao lại để mày tham gia vào việc này được?”

Thích Duyên Tâm đáp: “Sư phụ ơi, là tôi tự nguyện muốn làm thôi.”

Tên trùm trộm nói: “Đừng gọi tôi là sư phụ ngay bây giờ… Tôi vẫn chưa đồng ý nhận mày làm đệ tử đâu. Trước hết, hãy thử xem… Mày có biết người sáng lập nghề này là ai không?”

Thường ngày khi bán sen, Thích Duyên Tâm thích đọc sách và đã đọc qua bốn tác phẩm văn học nổi tiếng. Anh trả lời: “Người sáng lập nghề này là Thời Tiên.”

Tên trùm trộm nói: “Khi muốn nhập môn, phải quỳ gối và thắp hương cho tổ sư… Tôi vừa xem tin trên truyền hình, bảo tàng trong thành phố đang tổ chức triển lãm tranh với chủ đề ‘Hai mươi tám vị anh hùng Thủy Hử’, trong đó có bức chân dung của Thời Tiên. Nếu mày lấy được bức tranh đó, tôi sẽ nhận mày làm đệ tử.”

Thích Duyên Tâm chưa từng trộm cắp bao giờ; việc phải trộm một bức tranh tại bảo tàng lần đầu tiên thực sự là một thách thức lớn.

Tên trùm trộm nói: “Tôi cho mày ba ngày thời gian.”

Hắn còn đặt ra yêu cầu cao hơn nữa: trước khi thực hiện vụ trộm, Thích Duyên Tâm phải thông báo trước cho bảo tàng.

Thích Duyên Tâm đã chấp nhận nhiệm vụ khó khăn này… Anh nhờ Thủy Yến và Kẻ trộm mặc áo choàng giúp đỡ… Quá trình trộm cắp đã được kể chi tiết ở phía trước, nên không cần nhắc lại nữa… Cuối cùng, anh đã thành công trong việc lấy được bức tranh, treo nó trên tường phòng khách, chuẩn bị bàn thờ, quỳ gối và chính thức nhập môn với tên trùm trộm.

Tên trùm trộm nói: “Nghề trộm cắp có ba cấp độ.”

“Cấp độ thứ nhất là những việc nhỏ nhặt như trộm ví trên xe buýt hay cầm cặp xách ở ga tàu… Đó chỉ là những kẻ trộm nhỏ bé, không đáng kể gì.”

“Cấp độ thứ hai là những kẻ trộm có đạo đức lưỡng nan, vừa trộm của người giàu để giúp đỡ người nghèo.”

“Cấp độ thứ ba là những kẻ chiếm đoạt quyền lực của quốc gia… Trong lịch sử, có rất nhiều người đã làm

Ông ấy trực tiếp hướng dẫn các đệ tử cách đột nhập vào nhà trộm cắp, cách mở khóa, cách lẩn tránh sự chú ý của người khác; từ những chi tiết về trang phục cho đến thời điểm thích hợp để gây án, tất cả đều được chỉ dạy một cách tỉ mỉ và kỹ lưỡng.

Vua trộm yêu cầu ba đệ tử của mình trước hết học những kỹ năng cơ bản, chẳng hạn như luyện tập thị lực ban đêm bằng cách dùng góc quần quấn quanh bánh xe xe đạp, rèn luyện sức mạnh bằng cách dùng hai ngón tay kẹp viên gạch, và luyện tập phản ứng nhanh bằng cách bắt ruồi bằng tay không.

Vua trộm nói rằng, bí quyết để trộm cắp từ người đi đường là phải làm sao để họ mất tập trung. Ví dụ, nếu có người dùng góc quần quấn quanh bánh xe xe đạp, người đẩy xe chắc chắn sẽ quay đầu lại nhìn, và lúc đó người khác có thể lấy trộm túi xách trong giỏ xe đạp đó. Nếu trộm một mình, có thể vãi vài đồng xu xuống đất, sau đó nói “tiền bạn rơi rồi”, người đó chắc chắn sẽ cúi xuống nhặt tiền, và đó chính là cơ hội để ta lén lút lấy ví họ.

Sau khi học xong những kiến thức cơ bản, ba đệ tử tiếp tục được hướng dẫn những kỹ thuật nâng cao hơn. Vua trộm đã chi tiết giảng dạy cách mở khóa; chỉ cần dùng kẹo cao su là có thể mở được cửa chống trộm, dùng tiền giấy là có thể mở được còng tay, và dùng ống nghe y khoa là có thể giải mã mật khẩu để mở kho bảo hiểm.

Trong số ba người, Thích Diên Tâm và Thủy Yến Tử học giỏi nhất, thậm chí còn vượt trội hơn cả thầy của mình.

Còn cậu bé trộm kia thì do tuổi còn nhỏ, hay chơi đùa và thường xuyên mất tập trung, nên không học được nhiều kỹ năng trộm cắp.

Vài năm sau, Vua trộm qua đời một cách kỳ lạ. Ông đi xe buýt đến một nơi nào đó, ngồi cùng một người nông dân trông rất chân thật; người này đã ngủ thiếp đi và túi quần của anh ta rất đầy tiền. Không kìm lòng được, cậu bé đã lấy trộm ví của người đó. Nhưng khi mở ra xem, hóa ra đó chính là ví của chính mình; người nông dân chân thật kia thực ra cũng là một đồng nghiệp. Cậu bé đã lấy trộm một cái ví, nhưng số tiền trong túi mình thì không hề tăng thêm chút nào.

Có vẻ như cậu bé đã hiểu ra điều gì đó, liền cười lớn ba tiếng, và sau đó… ông đã qua đời.

1/1 0%