lore

Chương 337

13,809 Nhấn vào nội dung để bình luận hoặc báo lỗi.

Những Kỷ Niệm Buồn Bã

Những năm tháng gian khổ mà anh đã trải qua,

những con đường gập ghềnh và vất vả mà anh đã đi qua,

tất cả những sóng gió và thử thách mà anh đã đối mặt… tất cả đều hóa thành những giọt nước mắt.

Bao Chém trở về ngôi nhà cũ của mình ở làng Bao Gia.

Bên ngoài cửa sổ, những con gà mái kêu râm ran; bóng cây lay động trong ánh nắng mặt trời. Ngôi nhà này đã lâu không có ai ở nữa. Mặc dù đã được dọn dẹp vội vàng, nhưng bên trong vẫn còn một không khí u ám. Chăn ga đều mới, có lẽ là Bao Tổ trưởng đã mang từ nhà mình đến; còn những đồ đạc khác thì quá cũ kỹ – những chiếc hòm cũ, tủ cũ, những chiếc ghế kiểu cổ… tất cả đều giữ nguyên trạng thái khi anh rời nhà.

Ngôi nhà này chính là một phần của quá khứ.

Nếu một người có thể trở về ngôi nhà thời thơ ấu của mình, họ sẽ cảm thấy như đang du hành qua thời gian. Họ sẽ thấy những tấm lịch cũ được dán trên tường, trang sách Tiếng Việt trên bàn vẫn mở ra ở đoạn “Thiếu niên Lún Tú”, chiếc tivi kiểu cổ vẫn đặt ở chỗ cũ, những bộ quần áo cũ mà họ từng yêu thích vẫn được treo sau cánh cửa… Cánh cửa ấy – nơi mà anh đã bước vào và ra đi biết bao lần… Anh cảm thấy mình như đang lạc lõng trong không gian này, vừa mới mẻ lại vừa hoang mang, vừa xa lạ lại vừa quen thuộc.

Bao Chém chính là người sinh ra và lớn lên ở đây.

Từ khi còn nhỏ, cha mẹ anh đã qua đời, anh chưa bao giờ được nhìn thấy hình ảnh của họ, cũng không hề có bất kỳ ký ức nào về gia đình.

Những kỷ niệm về khu vườn nhỏ nơi trồng cây lựu lại ùa về trong trí nhớ của anh. Những năm tháng qua, cái cây lựu mà cha và chú anh trồng đã mọc um tùm lá xanh. Dù bây giờ là mùa hè, nhưng điều khiến Bao Chém nhớ mãi về cái cây này chính là một mùa đông năm nào đó: khi tuyết rơi trắng xóa khắp làng nhỏ, cái cây lựu đứng lẻ loi giữa khoảng sân tuyết rơi, và anh cũng đứng lẻ loi ở đó, cùng cái cây im lặng không nói một lời.

Bao Chém từ khi còn nhỏ đã tự mình giặt giũ, nấu ăn, học tập và ngủ. Mặc dù có sự chăm sóc của người thân trong bộ lạc, nhưng anh luôn cảm thấy cô đơn, như thể cả thế giới này đều đã bỏ rơi mình.

Đứa trẻ này đã quá sớm trải qua những khó khăn của cuộc sống, nhưng chính những điều đó đã khiến anh trở nên mạnh mẽ hơn bao giờ hết.

Ở góc tường, có một chiếc xe đạp ba bánh dành cho trẻ em. Hồ

Tất cả những người thân trong làng khi nghe tin Bao Chém trở về đều tìm đến thăm hỏi. Cả làng này thuộc về một dòng họ duy nhất, và không lâu sau, nhà cửa đã chật kín người thân. Mọi người đều ân cần hỏi thăm nhau, không có sự giả tạo hay kiêu ngạo, chỉ toàn lòng chân thành.

Một người phụ nữ trung niên giản dị nói: “Tiểu Bao, biết con bận rộn, hãy rảnh rỗi ghé nhà ăn cơm đi nhé. Chị gái của con sẽ chiên thịt giò cho con đấy; con từ nhỏ rất thích món này mà.”

Bao Chém gọi tên chị gái mình, và cô ấy liền đồng ý ngay.

Hai người bạn thời thơ ấu tiến lại mời Bao Chém hút thuốc, nhưng anh từ chối. Những đứa trẻ cùng nhau bắt cá chép ngày xưa giờ đã trưởng thành, đứng đó cười hiền lành; trên khuôn mặt chúng in hằn dấu vết của cuộc sống khó khăn. Bao Chém mất một lúc mới nhận ra họ và vui mừng gọi tên họ.

Một bà lão tóc bạc và một ông lão gù lưng, phải dựa vào gậy, bước vào nhà. Mọi người đều nhường chỗ cho họ; ông lão chính là trưởng tộc của làng Bao.

Bao Chém tiến lên và gọi ông là bốn ông, bốn bà.

Bao Chém hơi lúng túng, cảm thấy e ngại trước những cuộc giao tiếp xã hội; anh vốn là một người ít nói. Đối mặt với sự nhiệt tình của người thân, anh không biết phải làm sao, chỉ đơn giản là trao quà tặng cho các bậc trưởng thượng. Bốn bà ôm lấy đầu Bao Chém, nước mắt tuôn rơi, nói rằng anh từ nhỏ đã phải trải qua nhiều khó khăn. Bốn ông lẩm bẩm nói điều gì đó; Bao Chém chỉ nghe thấy vài từ: “Thượng Lâm”, “đốt giấy”.

Tiếng còi xe hơi vang lên trong sân; cảnh sát đã cử một chiếc xe đến đón Bao Chém. Anh như được ân xá và tận dụng cơ hội này để thoát khỏi vòng vây của người dân làng.

Người cảnh sát lái xe tên là Sun Dayue; trong suốt quá trình điều tra vụ án, anh ta đã phục vụ vai trò lái xe cho Bao Chém. Mặc dù Dayue là công chức, nhưng anh vẫn chưa kết hôn dù đã hơn ba mươi tuổi. Gia đình anh có một người mẹ bị liệt nằm liệt giường nhiều năm; để chữa bệnh cho mẹ, gia đình anh đã trở nên nghèo khó và nợ nần chồng chất. Vì là một người con hiếu thảo, anh không muốn gửi mẹ mình vào viện dưỡng lão, vì vậy không có cô gái nào muốn kết hôn với anh cả.

Cùng đi còn có nữ phóng viên và nhiếp ảnh gia của đài truyền hình huyện; họ dự định sẽ thực hiện một bản tin theo dõi về vụ án “con giun đất người”.

Xe rời khỏi làng, tiến lên con đường nông thôn. Hai bên đường là những cây bạch dương thẳng tắp; từng chiếc lá dưới ánh nắng mặt trời đều xanh biếc chói lọi. Tiếng ve kêu vang lên từ trên cây, làn gió nhẹ thổi qua những cánh đồng lúa mì vàng óng. Một ông già chăn cừu đang nghỉ ngơi dưới bóng cây; xa xa, một chiếc máy gặt đang hoạt động trên cánh đồng.

Bao Chém nhớ lại những lời của bốn bác; khi đi qua một thị trấn nhỏ, anh đã mua một số đồ dùng để tưởng niệm: hương, tiền vàng, giấy hóa vàng, cùng một chai rượu. Dựa vào ký ức, anh tìm đến mộ phần của cha mẹ, quỳ xuống vái vài cái rồi khóc nức nở. Những nỗi khổ, những đau đớn mà anh đã trải qua trong suốt những năm qua, tất cả đều hóa thành nước mắt.

Nữ phóng viên tên là Zhang Lei; trên xe, cô đã tiến hành một cuộc phỏng vấn ngắn gọn với Bao Chém.

Zhang Lei hỏi: “Tôi cũng đã xem đoạn video giám sát đó; nó trông hơi giống cảnh trong phim về việc ‘đuổi xác’. Bạn có tin vào chuyện này không?”

Bao Chém trả lời: “Tất nhiên là không. Xác chết không thể đi bộ hay bò được.”

Zhang Lei tiếp tục: “Nếu người đàn ông cầm cần câu phía trước là nghi phạm, và bốn nạn nhân đang bò theo phía sau, tại sao họ lại không chạy trốn?”

Bao Chém nói: “Có lẽ họ không thể chạy trốn được.”

Sun Dayue nói: “Hiện tại, nghi phạm vẫn chưa bị bắt; thông tin về vụ án cần được giữ bí mật. Đài truyền hình của các bạn đừng đưa tin về những điều này nhé.”

Zhang Lei đáp: “Yên tâm đi. Tôi chỉ tò mò thôi; hỏi thăm một chút thôi mà. Với một vụ án lớn như thế này xảy ra ở huyện chúng ta, mọi người đều rất quan tâm. Chỉ khi vụ án được giải quyết xong, chúng tôi mới đưa tin.”

Sun Dayue nói: “Hãy để Xiao Bao nghỉ ngơi một lát đi. Cứ để lại số điện thoại của bạn; nếu có gì cần hỏi, tôi cũng có thể liên lạc với bạn.”

Zhang Lei đáp: “Được thôi. Nếu bạn cung cấp cho tôi một số thông tin quan trọng, tôi sẽ mời bạn ăn uống. Sau này chúng ta sẽ đi đâu tiếp? Quay lại công an huyện à?”

Bao Chém trả lời: “Chúng ta sẽ đi tìm một nhân chứng.”

Trong đoạn video giám sát đó, năm người xếp hàng thành một chuỗi, di chuyển chậm rãi về phía trước. Người đầu tiên trong hàng mặc áo mưa, có thân hình vừa phải, vai đeo một cây cần câu; bốn người còn lại cũng mặc áo mưa và di chuyển trên mặt đất theo

Trong đoạn video, thời gian hiển thị là ba giờ sáng, và trên đường không có một bóng người nào cả.

Bao Chém Chợt nhớ đến một người tên Lão Dương – người này mở một quán ăn sáng ở góc đường và bắt đầu làm việc từ lúc ba giờ sáng hàng ngày; rất có thể ông ấy đã chứng kiến những gì xảy ra vào lúc đó.

Ở mỗi cổng trường học đều có một con phố ăn vặt, nơi mà mọi thứ thường rất lộn xộn; mỗi khi trời mưa, nước thải lại tràn lan khắp nơi. Quán bánh gối đặt cạnh quán bánh bao, các món ăn vặt của Sha County xen kẽ với mì Lạc Dương, mùi thơm của món lẩu cay và mùi hôi của đậu phụ thối hòa quyện vào nhau; tiếng xèo xèo của mực nướng và tiếng xèo xèo của thịt gà được chiên trong dầu cũng vang lên. Máy làm xúc xích vẫn đang hoạt động, cái xẻng vừa mới lật những chiếc bánh xèo lên, cửa hàng trà sữa được dán đầy những tờ giấy ghi lại lời nhắn của học sinh.

Không hề phóng đại khi nói rằng, ngay cổng trường học là nơi tập trung những món ăn vặt đáng nhớ và ngon miệng nhất trong cuộc đời mỗi người.

Bởi vì sau khi tốt nghiệp, bạn sẽ không bao giờ có cơ hội thưởng thức chúng nữa.

Bởi vì tất cả những món ăn đó đều chứa đựng ký ức tuổi trẻ của chúng ta.

Những học sinh tốt nghiệp trường Trung học Cấp I Giá Hiển chắc chắn sẽ không bao giờ quên được món ăn vặt đặc sản địa phương này: canh xương.

Canh xương có nguồn gốc từ thành phố Tế Ninh, tỉnh Sơn Đông, và phổ biến dọc theo tuyến đường Thủy Canal Kinh-Hàng ở vùng đất Qilu. Mặc dù được coi là một món ăn nổi tiếng, nhưng người ngoài tỉnh thực sự không mấy biết đến nó. Nước dùng của món này được nấu từ xương bò hoặc xương cừu, kết hợp với các loại gia vị, hành tây và gừng, và cần được nấu trên lửa lớn trong vài giờ để nước dùng chuyển sang màu trắng sữa. Trong bát canh, bạn chỉ cần đập vỡ một quả trứng, đổ nước dùng nóng hổi lên trên, thêm vài lát thịt đã nấu chín mỏng, rắc rau mùi lên trên, sau đó cho thêm dầu mùi thơm – món ăn này sẽ có đủ màu sắc, hương vị và hương thơm.

Loại nước dùng xương này đã nuôi dưỡng những người con gái và con trai ở vùng tây nam Sơn Đông – những người chăm chỉ, tốt bụng, mộc mạc và mạnh mẽ.

Ban đầu, quán canh xương của Lão Dương chỉ là một cái lều bằng gỗ rất đơn sơ, thuộc loại công trình xây dựng trái phép. Phía trên lều từng treo một tấm biển hiệu, nhưng sau nhiều năm bị khói bếp làm bay màu, một năm nào đó, cơn gió mùa đông đã cuốn đi một nửa tấm biển hiệu, và bâ

Dù là mùa xuân, hè, thu hay đông, lúc ba giờ sáng hàng ngày, ông Dương luôn dậy để đốt lò nấu canh. Nhiều năm trước, khi ông Dương còn là anh Dương nhỏ, những người đầu tiên đến ăn ở đây là những người lao động vất vả: họ làm việc tại ga xe lửa Đông Quan, làm công nhân xây dựng, hoặc là những người chạy xe ngựa, xe lừa vận chuyển hàng xa xôi; họ gọi to để xe ngựa, xe lừa dừng lại. Những người này không cần phải nói chuyện với ông Dương; họ chỉ cần ngồi xuống bàn nhỏ, ông Dương liền mang đến cho họ một bát canh nóng hổi. Nếu trời đang rơi tuyết và gió bắc thổi vút vã, sau khi uống xong bát canh đó, họ sẽ đổ mồ hôi đầy người và cảm thấy tràn đầy sức lực để tiếp tục cuộc sống của mình.

Ngoài việc bán canh, ông Dương còn làm bánh chiên dầu. Loại bánh này được gọi là “bánh tráng”, rất no bụng, ăn một cái là có thể no cả ngày.

Bánh chiên dầu thường được cuộn cùng hành lá và dưa muối; dưa muối do vợ ông Dương làm. Trong cửa hàng có một cái vại lớn, đầy ắp các miếng cà rốt và dưa chuột ngâm gia vị; tất cả những thứ này đều được trồng trong vườn nhà ông và được cung cấp miễn phí.

Ông Dương không quá quan tâm đến tiền bạc; cửa hàng bán canh của ông chỉ mở cửa vào buổi sáng, sau trưa ông đóng cửa đi chơi cờ.

Vào năm đó, khi kỳ thi đại học diễn ra, ông Dương đã đưa ra một quyết định quan trọng: tất cả những sinh viên tham gia kỳ thi đại học đến ăn ở cửa hàng đều được miễn phí, mỗi người được một cái bánh chiên dầu và một bát canh.

Trong hai ngày diễn ra kỳ thi đại học, cửa hàng của ông Dương chật kín sinh viên đến ăn; hành động tốt của ông đã giúp giảm bớt áp lực lớn trong kỳ thi này. Các sinh viên đã cảm ơn ông Dương, nhưng ông chỉ nói: “Con trai, dù con đỗ đại học Bắc Kinh hay Thanh Hoa thì cũng hãy thường xuyên về nhà thăm cha mẹ.”

Vợ ông Dương bên cạnh thì lẩm bẩm than phiền: “Hai ngày này cho ăn uống miễn phí, mất bao nhiêu tiền rồi, thật là ngốc.”

Ông Dương quát lên vợ mình: “Biến mất đi, đừng nói lung tung nữa!”

Dần dần, điều này trở thành một truyền thống tại cửa hàng nhỏ này; suốt nhiều năm qua, mỗi khi kỳ thi đại học đến, cửa hàng của ông Dương lại đông đúc sinh viên. Người ta nói rằng, uống canh của ông Dương vào ngày kỳ thi đại học sẽ giúp người học thể hiện tốt hơn bình thường và đạt được kết quả tốt hơn; vì vậy, nhiều phụ huynh cũng đến xếp hàng để mua canh cho con em mình.

Có một năm, các nhân viên quản lý đô thị muốn tịch thu bàn ghế của ông Dương, không cho phép ông bán hàng trước cửa hàng,

Bao Chém Hồi trung học, tôi đã từng làm học trò trong cửa hàng của Lão Dương và làm thêm việc nên rất quen với ông ấy, không cần phải khách sáo gì cả.

  Lão Dương nói: “Nhỏ Bao Tử à, nghe nói em đã trở thành một thám tử giỏi rồi nhỉ? Khi tôi xong việc sẽ nói chuyện với em, cứ ngồi đợi đi, em chưa ăn gì phải không?”

  Bao Chém đáp: “Ăn uống không vội đâu, để tôi giúp ông trước.” Anh ta khéo léo buộc chiếc tạp dề lên người, cầm cây cán bột bắt đầu cán bánh, sau đó lấy những miếng bánh ra, phết một ít dầu lên trên, lật mặt lại và nhanh chóng làm xong những chiếc bánh cuốn dầu cuối cùng.

  Khách trong cửa hàng dần dần ra về, Lão Dương mang cho mỗi người một bát canh và một chiếc bánh.

  Bao Chém cũng không keo kiệt, cầm lấy chiếc bánh, phết lên trên một ít tương ớt cay – loại tương này rất cay, được làm từ loại ớt có tên “Vọng Thiên Hổ” sản xuất ở Sơn Đông – sau đó cuộn vào bên trong với vài sợi dưa muối và một nhánh hành lá, cắn một miếng lớn, rồi uống một ngụm canh và khen: “Bữa ăn này ngon hơn nhiều so với bữa tiệc lớn hôm qua đấy.”

  Lão Dương hỏi: “Thực sự ngon phải không?”

  Bao Chém đáp: “Thực sự rất ngon, vẫn giữ nguyên hương vị như trước đây.”

  Sau khi ăn xong, Sun Dayue e ngại hỏi Lão Dương: “Ở đây có thể in hóa đơn được không? Không có hóa đơn thì không thể thanh toán được đâu.” Dayue là một cảnh sát cấp dưới, lương không cao lắm; để tiết kiệm tiền thuốc cho mẹ mình, anh ta luôn rất tiết kiệm, vì vậy anh ta hơi do dự không biết có nên trả tiền cho bữa ăn này hay không.

  Lão Dương nói: “Cửa hàng nhỏ của tôi đâu có hóa đơn đâu. Nhỏ Bao Tử là học trò của tôi, ăn ở đây sao còn phải trả tiền nữa?”

  Sau khi ăn xong, Bao Chém bắt đầu nói về chuyện quan trọng, hỏi Lão Dương liệu ngày xảy ra vụ án có thấy bất cứ điều gì bất thường không.

  Lão Dương suy nghĩ kỹ rồi nói: “Hôm đó trời đang mưa, tôi thực sự thấy vài người mặc áo mưa đi qua trước cửa hàng tôi, không rõ họ là nam hay nữ… Nhưng họ đi bộ qua đó, chứ không phải bò… Em nói như vậy thì thật đáng sợ quá; làm sao lại có người bò trên đường phố được chứ?”

  Bao Chém suy nghĩ một lát rồi nói với Dayue: “Có vẻ như đến khi đến ngã tư thì bốn người đó mới quỳ xuống và bắt đầu bò.”

  Sun Dayue hỏi: “Động cơ của họ là gì vậy?”

  Nữ phóng viên Zhang Lei hỏi: “Vào lúc ba giờ sáng, họ đi qua trướ

1/1 0%