lore

Chương 249: Những thách thức mới trong quá trình phát triển công nghiệp

11,288 Nhấn vào nội dung để bình luận hoặc báo lỗi.

Khi nghe tin Hà Đông đã được giải phóng, Ren Zhong cảm thấy rất hứng thú. Nơi đây có nguồn tài nguyên khoáng sản vô cùng phong phú. Theo kết quả khảo sát của thế giới chính, các loại khoáng sản như than đá, sắt, vàng, bạc, đồng, nhôm, kẽm, chì, cobalt, molybden… đều được ghi nhận trong danh sách nguồn tài nguyên. Trong số đó, nhôm, kẽm, chì, cobalt, molybden là những loại kim loại cực kỳ cần thiết, và nhiều loại hợp kim đều yêu cầu sử dụng chúng.

Ngoài ra, Hà Đông có nhiều dãy núi và hệ thống sông ngòi phát triển tốt, với độ chênh lệch cao, điều kiện để phát triển thủy điện nhỏ cũng rất thuận lợi; có thể xây dựng cơ sở điện năng ngay tại hiện trường để tiến hành công việc luyện kim.

So với các nhà máy điện đốt than, việc xây dựng các nhà máy thủy điện nhỏ diễn ra nhanh hơn nhiều.

Ren Zhong không lo lắng rằng Li Yunlong và đồng đội sẽ không thể giữ vững Hà Đông. Hiện nay, ở khu vực Sơn Tây, nền công nghiệp của phe Quân đội Nhân dân Giải phóng ngày càng mạnh mẽ; khả năng sản xuất các loại vật tư quân sự ngày càng tăng lên. Sức mạnh của Quân đội Nhân dân Giải phóng đang tăng trưởng với tốc độ chưa từng có; có thể nói, mỗi tháng lại có thêm một lữ đoàn bộ binh cơ giới mạnh mẽ được thành lập.

Với khả năng tấn công nhanh chóng mà Li Yunlong đã thể hiện, các sư đoàn thông thường của quân địch hiện nay đã không thể so sánh được với các lữ đoàn bộ binh cơ giới này. Về mặt sức mạnh hỏa lực, họ hoàn toàn chiếm ưu thế áp đảo.

Trong những cuộc đối đầu trên chiến trường như vậy, kết quả thắng lợi luôn thuộc về các lữ đoàn bộ binh cơ giới.

Với những điều kiện bên ngoài như vậy, phe Quân đội Nhân dân Giải phóng không chỉ không sợ quân địch tấn công mà còn không lo lắng về những ý đồ xấu của bất kỳ ai; việc “tranh thủ thời gian” cũng không thể so sánh được với Ren Zhong, người luôn sẵn sàng tận dụng mọi nguồn lực có sẵn.

Tuy nhiên, hiện nay Ren Zhong đang cố gắng tranh giành thời gian cho trận chiến quyết định ở Đông Bắc, vì vậy mọi việc đều trở nên vô cùng khẩn cấp. Anh hy vọng có thể chuyển đổi tất cả các nguồn lực hiện có thành sức mạnh chiến đấu cho Quân đội Nhân dân Giải phóng; chỉ cần trang bị đầy đủ cho 15 lữ đoàn bộ binh cơ giới, Ren Zhong sẽ có thể thúc đẩy quá trình giải phóng toàn bộ Đông Bắc.

Thậm chí, vì mục tiêu này, Ren Zhong sẵn sàng để quân địch ở Hoa Bắc sống thêm vài ngày nữa.

Do đó, việc giành được Hà Đông thực sự là một yếu tố then chốt đối với Ren Zhong.

Rất nhanh sau đó, Ren Zhong đã tổng hợp thông

Bên kia, Khổng Tiệt ở lại Hà Đông để sắp xếp lại thành phố; Lý Vân Long dẫn đầu hai lữ đoàn với hầu hết các trung đoàn bộ binh và trung đoàn pháo nặng số 107, sau những trận chiến ác liệt đã tiêu diệt hoàn toàn hai đại đội bộ binh còn lại của quân Nhật Bản đang trấn giữ tuyến sau. Sau khi vượt qua đêm tối để đến Phính Lục, họ đã chặn đứng hai liên đoàn của quân Nhật Bản – liên đoàn công binh và liên đoàn hậu cần – vì không kịp thời rút lui.

Sau khi tiêu diệt hoàn toàn lực lượng dự bị của Sư đoàn 41, nhìn ra dòng sông Hoàng Hà, Lý Vân Long chỉ có thể thở dài. Khi quân Nhật Bản rời đi, họ đã thu gom hết tất cả các con thuyền xung quanh rồi vượt sông sang bờ nam. Thấy rằng lực lượng hậu cần không kịp thời trốn thoát, Tanaka Goro thậm chí còn ra lệnh phá hủy tất cả các con thuyền bên bờ sông.

Sau đó, ông ta dẫn đầu hai liên đoàn bộ binh còn lại và một liên đoàn pháo nặng tiếp tục chạy trốn về phía đông. Những trận chiến vượt sông và việc phải trấn giữ tuyến sau đã khiến cho một liên đoàn bộ binh của quân Nhật Bản bị tiêu diệt; hiện tại, họ chỉ còn lại Liên đoàn bộ binh số 238 và Liên đoàn bộ binh số 239, cùng với Liên đoàn pháo nặng số 41 mà họ đã cố gắng bảo toàn. Mặc dù Sư đoàn 41 bị tổn thương nặng nề, nhưng so với các đội quân khác, họ vẫn là một “con sói đơn độc” đầy nguy hiểm.

Tanaka Goro tổ chức lại lực lượng còn lại, khoảng hơn tám nghìn người, sau đó thu thập lương thực trong vòng bảy ngày tại Thiểm Châu rồi lập tức rời khỏi đó để tiếp tục tiến về phía đông. Trên đường đi, vì có lương thực, quân Nhật Bản không tấn công vào các thành phố mà tiến quân rất nhanh, chỉ trong một ngày đã đi được hơn một trăm dặm và đến gần Miện Trì.

Phía Quả Phụ đã chuẩn bị sẵn hai sư đoàn để đón đợi quân Nhật Bản tại Miện Trì. Tuy nhiên, Tanaka Goro lại đi qua khu vực cách Miện Trì khoảng mười km về phía nam, khiến cho hai tướng chỉ huy của Quả Phụ rất bối rối nhưng cuối cùng cũng không dám truy đuổi.

Mãi cho đến khi quân Nhật Bản đến khu vực Tân An, hai sư đoàn của Quả Phụ mới tiến lên để chặn đứng họ. Nhưng quân Nhật Bản không chịu dừng lại, mà thay vào đó tiếp tục di chuyển về phía nam, qua Y Dương, rồi sau đó quay trở lại hướng đông.

Tức giận, Tướng Trần đã điều động năm sư đoàn để chặn đứng lực lượng còn lại của Sư đoàn 41 gần Lạc Dịch, nhưng Tanaka Goro lại tiếp tục đi xuống phía nam, qua Y Thành để đến Đăng Phong, và cuối cùng đã kết hợp được với lực lượng chính của quân Nhật Bản, thoát khỏi vòng vây của Quả Phụ một cách kỳ diệu.

So với đó, may mắn của Anda Nhị Thập Tam không tố

Chỉ là lúc đó, đội quân du kích không hề biết rằng mình vừa bắt được một “con cá lớn”; họ chỉ nhận ra giọng nói của tên Nhật Bản này rất khác thường. Mãi sau khi đưa nó về huyện để thẩm vấn, họ mới phát hiện ra rằng đó là một sĩ quan cấp cao của quân Nhật.

Toàn bộ Sư đoàn 37 đã bị tiêu diệt hoàn toàn; không một người nào trong đội quân này sống sót trước quân xâm lược Nhật Bản. Kế hoạch “Phục hồi và trang bị lại cho quân đội” do Anda 23 đề xuất cuối cùng cũng chỉ có thể được ghi chép lại trong hồ sơ thẩm vấn mà thôi.

Sau trận chiến ở Hà Đông, Tư lệnh đoàn đã điều động 10 trung đoàn loại C từ Thái Nguyên đến các huyện khác để thay thế ba đơn vị chủ lực do Li Yunlong chỉ huy, sau đó các đơn vị này trở về Zezhou để nghỉ ngơi và tiếp tục bổ sung lực lượng.

Sau khi trải qua thử thách trên chiến trường, Tư lệnh đoàn đã hiểu rõ hơn về việc ứng dụng lực lượng bộ binh cơ giới, và ông càng hiểu sâu hơn về kế hoạch thử nghiệm mà Ren Zhong đề xuất. Sau khi thương lượng trực tiếp với trụ sở chính, ông quyết định sẽ tổ chức lại hai trung đoàn 771 và 772 theo mô hình đoàn bộ binh cơ giới độc lập do Li Yunlong thiết kế.

Tuy nhiên, tất cả các trang bị cần thiết đều phải do chính Tư lệnh đoàn sản xuất tại Nhà máy Máy móc Nặng số 4 ở Lữ An Phủ.

Hiện nay, ở vùng biên giới, có Nhà máy Máy móc Nặng số 1, Nhà máy Máy móc Nặng số 2 ở Cửu Nguyên, Nhà máy Máy móc Nặng số 3 được xây dựng ở Thái Nguyên, và Nhà máy Máy móc Nặng số 4 ở Lữ An. Ở khu vực Yúnzhōng, Nhà máy Máy móc Nặng số 5 cũng đang được xây dựng. Hiện nay, Nhà máy Máy móc Nặng số 1 có khả năng sản xuất hơn 20 xe tăng mỗi tháng; đồng thời, sản lượng các linh kiện cốt lõi cho xe tăng đã vượt quá 300 bộ, 200 khẩu pháo chính cho xe tăng được sản xuất hàng tháng. Về sản xuất ô tô, nhà máy này có khả năng sản xuất 100 xe tải và 200 xe jeep mỗi tháng.

Nhà máy Máy móc Nặng số 2, ngoài việc không thể sản xuất các linh kiện cốt lõi như máy phát điện và thiết bị thông tin liên lạc, thì đã hoàn thành việc xây dựng dây chuyền sản xuất áo giáp, bánh xích, các loại bánh răng và pháo chính cho xe tăng. Khả năng sản xuất hàng tháng của nhà máy này đã vượt quá 20 xe tăng; dây chuyền sản xuất ô tô cũng đã đạt sản lượng 50 xe mỗi tháng và đang tiếp tục tăng lên.

Ngoài ra, các nhà máy máy móc nặng khác chỉ có thể sản xuất áo giáp, bánh xích và các bộ phận cấu trúc lớn để lắp ráp. Tổng cộng, khả năng sản xuất xe tăng hiện nay đã vượt quá 100 xe mỗi tháng; sản lượng xe

Có lẽ càng lúc các đại tá và những người khác giành được nhiều lãnh thổ hơn, kế hoạch này sẽ càng được thực hiện triệt để hơn nữa.

Chẳng hạn như ở khu vực Hà Đông, việc sản xuất xe tăng có lẽ sẽ gặp nhiều khó khăn, nhưng việc lắp ráp xe tải và xe bán tải vẫn có thể được thực hiện một cách tích cực. Ở vùng biên giới, nếu các nhà máy sản xuất được động cơ, hộp số, lốp xe và những linh kiện quan trọng khác, thì các nhà máy cơ khí hạng nặng khác sẽ dựa vào các khuôn mẫu để sản xuất các bộ phận thông thường như khoang xe và thép chịu lực.

Việc lắp ráp các thành phần này tương đối đơn giản so với việc sản xuất động cơ, và cũng không cần nhiều thiết bị máy móc.

Nhờ việc thống nhất các tiêu chuẩn và kích thước sản xuất, các linh kiện được sản xuất tại các nhà máy khác nhau trong các căn cứ địa đều có thể được sử dụng chung với nhau, điều này mang lại lợi thế lớn cho công tác sửa chữa trên chiến trường.

Khái niệm “tiêu chuẩn quân sự” do Nhậm Trọng đề xuất, mặc dù hiện tại vẫn chưa hoàn chỉnh, nhưng mọi loại sản phẩm cơ bản đều được sản xuất dựa trên những tiêu chuẩn nhất định. Điều này giúp các địa phương tự nguyện tham gia vào hệ thống này. Đối với những linh kiện mới được sản xuất tại địa phương, hiện tại Nhậm Trọng vẫn không thể kiểm soát chúng; tuy nhiên, về mặt thép, những vật liệu thép dùng để chế tạo các bộ phận cấu trúc quan trọng chỉ có thể được sản xuất tại ba nhà máy thép có lò luyện điện là Nhà máy Thép Khu Vực Biên Giới, Nhà máy Thép Cửu Nguyên và Nhà máy Thép Tây Bắc.

Sau khi kiểm soát được các nguồn tài nguyên khoáng sản ở Bạch Vân Ô Bảo, Nhậm Trọng đã bắt đầu mở rộng khả năng sản xuất, và kế hoạch khai thác khoáng sản ở khu vực Cửu Nguyên – Bạch Vân Ô Bảo đã được nâng lên mức hàng triệu tấn mỗi năm.

Hiện nay, việc mở rộng năng lực sản xuất đã trở nên dễ dàng hơn; đối với Cửu Nguyên và Bạch Vân Ô Bảo, rào cản lớn nhất hiện nay chính là nguồn nhân lực.

Ở những vùng đất khắc nghiệt ngoài biên giới, không có nhiều người lao động muốn đến đó làm việc.

Tuy nhiên, hiện tại là thời kỳ đặc biệt; nhờ vào khả năng vận động tuyển mộ mạnh mẽ, các tổ chức ở vùng biên giới liên tục vận động thanh niên từ khu vực Sơn Tây và các vùng lân cận đến miền bắc để làm việc. Theo lời Nhậm Trọng, đó sẽ là nơi tuyệt vời để thanh niên rèn luyện và gây dựng sự nghiệp; nếu không đi bây giờ, họ sẽ hối tiếc sau này.

Đối với thời đại này, nguồn tài nguyên khoáng sản ở đây có thể được coi là vô cùng lớn, lớn hơn nhiều

Các nguyên tố hiếm có vai trò không thể phủ nhận đối với công nghiệp hiện đại; chắc chắn đây sẽ là một ngành công nghiệp mới nổi trong tương lai.

Tuy nhiên, những tiến bộ hiện nay vẫn còn khá chậm. Các phương pháp như quá trình xử lý bằng axit sulfuric đặc hoặc phương pháp kiềm hóa tương đối đơn giản để thu được các kim loại này, nhưng quy trình khai thác tinh vi hơn thông qua phương pháp khử nhiệt lại rất phức tạp.

Quy trình này đòi hỏi phải sử dụng khí trơ và điều kiện gần chân không, ở nhiệt độ cao, để chiết xuất các kim loại hiếm có trọng lượng trung bình như samarium Sm (dùng để sản xuất vật liệu laser, thiết bị sóng vô tuyến và hồng ngoại, cũng như trong ngành công nghiệp hạt nhân), europium Eu (phosphor dùng trong TV màu, vật liệu laser và ngành hạt nhân), terbium Tb (được yêu cầu sử dụng trong chụp X-quang) và dysprosium Dy (dùng làm chất phụ gia cho các nam châm vĩnh cửu loại neodymium-iron-boron trong máy điện).

Việc sản xuất các kim loại hiếm này rất khó khăn; cần phải tổng hợp các hợp chất hiếm có cấp độ thương mại cùng với các hóa chất tinh vi liên quan đến kim loại đó. Hơn nữa, các mỏ khoáng sản hiếm có thường chứa nhiều loại kim loại hiếm kết hợp với nhau, chẳng hạn như niobium, tantalum, indium, nickel và các nguyên tố có giá trị khác; điều này làm tăng độ phức tạp của quá trình tinh chế và tách riêng từng loại kim loại.

Chương đầu tiên được đăng ra rồi! Mong mọi người ủng hộ bằng cách đặt vé hàng tháng nhé!

1/1 0%